Giới thiệu về tôi

Thứ Sáu, 27 tháng 2, 2026

Quyền môi trường của hàng tỷ người trên thế giới đang bị đe dọa

 Trong một nghiên cứu toàn diện nhất từ trước đến nay về bất bình đẳng môi trường, các nhà nghiên cứu tại Đại học Colorado Boulder phát hiện gần một nửa dân số toàn cầu đang sống ở các khu vực phải đối mặt với ba hoặc nhiều vấn đề môi trường, bao gồm ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước, nhiệt độ cực đoan, mất an ninh lương thực và đa dạng sinh học.

Những tác nhân đe dọa quyền con người về môi trường trên toàn cầu.

Kết quả được công bố trên Environmental Research Communications.

"Trong những năm qua, các cộng đồng trên khắp thế giới đã đấu tranh cho công lý môi trường tại các quốc gia", nhà nghiên cứu sau tiến sĩ Naia Ormaza-Zulueta tại Đại học Colorado Boulder, tác giả thứ nhất của nghiên cứu, cho biết. "Chúng tôi muốn kết nối những câu chuyện này thành một bức tranh thống nhất trên toàn cầu, chứ không còn là những vấn đề riêng lẻ".

Năm 2022, Liên Hợp Quốc đã thông qua một nghị quyết công nhận mọi người trên hành tinh đều có quyền được hưởng môi trường trong lành. Nghị quyết mang tính bước ngoặt này, mặc dù kêu gọi các quốc gia hành động để bảo vệ quyền môi trường của người dân, nhưng không có ràng buộc pháp lý.

Nhà nghiên cứu Ormaza-Zulueta, hiện đang công tác tại Đại học British Columbia ở Vancouver, cho biết nghị quyết cũng không tính đến thiệt hại môi trường do hoạt động ở các quốc gia khác gây ra. Nhiều nghiên cứu cho thấy các nước công nghiệp lớn, chẳng hạn như Mỹ, phát thải nhiều khí nhà kính nhất, nhưng các quốc gia có thu nhập thấp lại chịu tác động lớn nhất.

Ormaza-Zulueta và Zia Mehrabi, một nhà khoa học dữ liệu tại Khoa Nghiên cứu môi trường, người sáng lập Phòng thí nghiệm Hành tinh tốt đẹp hơn (Đại học Colorado Boulder), muốn xác định số người trên toàn cầu không được đảm bảo về quyền môi trường.

Họ đã thu thập các bộ dữ liệu lớn về các vấn đề môi trường để tính toán một cá nhân ở một địa điểm nhất định trên thế giới đang ở trong (hoặc đã trải qua gần đây) điều kiện sống không đảm bảo quyền con người về môi trường trong năm lĩnh vực cốt lõi (do Liên Hợp Quốc xác định): không khí sạch, nước sạch, khí hậu an toàn, thực phẩm lành mạnh được sản xuất bền vững, các hệ sinh thái và đa dạng sinh học phát triển mạnh.

Nhóm nghiên cứu phát hiện phần lớn mọi người trên Trái đất đều sống ở những khu vực gần đây đã trải qua ít nhất một rủi ro môi trường không đáp ứng quyền con người do Liên Hợp Quốc đề ra. Hơn 45%, tương đương 3,4 tỷ người, bị đe dọa ít nhất ba quyền, và 1,25%, tương đương 95 triệu người, không được đảm bảo cả năm quyền.

Việc tiếp cận không khí sạch - với nồng độ bụi mịn ngoài trời trung bình hằng năm dưới mức hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới - là quyền bị đe dọa nhiều nhất, tiếp theo là tiếp cận thực phẩm lành mạnh và được sản xuất bền vững.

Mặc dù tình trạng môi trường kém chất lượng có nguy cơ ảnh hưởng đến hầu hết mọi người, nhưng không phải ai cũng chịu tác động như nhau. Tương tự các nghiên cứu trước đây, các tác giả nhận thấy các nhóm dân số yếu thế, chẳng hạn những người có thu nhập thấp hơn, những người di cư và những người sống ở lãnh thổ của dân bản địa, có nhiều nguy cơ phải sống trong tình trạng ô nhiễm không khí, hạn chế về tiếp cận nước sạch và nhiệt độ cực cao hơn so với phần còn lại.

Cư dân ở các khu vực giàu có hơn thường sống trong điều kiện môi trường tốt nhất, và có nhiều khả năng tránh được những tác động xấu nhất khi biến đổi khí hậu diễn ra.

"Môi trường bất ổn đang gây mất ổn định xã hội", Mehrabi nói. "Đã có rất nhiều lo ngại ở Mỹ và các nơi khác về xung đột, nhập cư và các dấu hiệu bất ổn khác. Các vấn đề môi trường chỉ khiến chúng trở nên tồi tệ hơn".

Những con số tiêu cực này vẫn chưa phản ánh toàn bộ câu chuyện, Mehrabi cho biết. Ngoài năm nhóm yếu tố cốt lõi, nhiều người còn có nguy cơ đối mặt với những điều kiện môi trường tồi tệ khác chưa được đo lường trong nghiên cứu, chẳng hạn phơi nhiễm độc tố phát sinh từ hoạt động khai thác mỏ và rác thải nhựa.□

Thanh An lược dịch

Nguồn: https://www.colorado.edu/today/2025/11/06/billions-live-environments-violate-human-rights

Bài đăng Tia Sáng số 22/2025

Nguồn:https://tiasang.com.vn/quyen-moi-truong-cua-hang-ty-nguoi-tren-the-gioi-dang-bi-de-doa-5000047.html?fbclid=IwY2xjawQNwXNleHRuA2FlbQIxMQBzcnRjBmFwcF9pZBAyMjIwMzkxNzg4MjAwODkyAAEe2ThkXNcXDnwaLnlmwg40gmEben68RUYWSgNddMHuOE8I2NM71WHGFmIkS_E_aem_BB10950mmph2KWBhhPtnsw

Thứ Tư, 25 tháng 2, 2026

Khoảng cách công nghệ số gặp khoảng cách công nghệ lượng tử

 Michael Karanicolas, Alessia Zornetta

Việc tiếp cận công nghệ lượng tử chỉ là đặc quyền của một nhóm nhỏ không chỉ phản ánh xu hướng đáng quan ngại của tình trạng cát cứ công nghệ, mà còn phát sinh thêm những thách thức mới, đặc biệt khi lượng tử có tiềm năng tấn công vào hạ tầng số hiện tại trên khắp thế giới.

Một đột phá lớn trong công nghệ lượng tử vào tháng 10/2024: đường truyền thông tin lượng tử giữa Trung Quốc và Nam Phi với khoảng cách lên tới 12.900 km.

Trong nhiều thập kỷ, nhiều người đã cho rằng, các quy tắc về sở hữu trí tuệ đã khiến bất bình đẳng toàn cầu trở nên sâu sắc, và khiến thành quả của phát triển công nghệ chỉ tích tụ ở các quốc gia thịnh vượng và kìm hãm sự tăng trưởng ở các nước đang phát triển. Những lo ngại tương tự giờ đây tiếp tục xuất hiện với sự trỗi dậy của nền kinh tế AI, nơi những người đi tiên phong đang thiết lập các tiêu chuẩn kiểm soát cho phù hợp với mối quan tâm của chính họ, và thường làm tăng chi phí của các quốc gia nghèo.

Khi các quốc gia phát triển cùng chạy đua tới cột mốc uy quyền lượng tử, mô hình "gác cổng công nghệ", cát cứ công nghệ tương tự đang được dự báo là có xu hướng lặp lại. Dù chưa thành hình nhưng tiềm năng của các tiên tiến lượng tử đang có ít nhiều mở ra gợi ý về an ninh quốc gia, do đó, sự bất bình đẳng cả về tiếp cận và kiểm soát công nghệ có nguy cơ mở rộng hơn. Chúng ta đã chứng kiến việc kiểm soát xuất khẩu công nghệ ngặt nghèo và các sáng kiến nghiên cứu được thiết kế chỉ để giữ công nghệ ở lại những quốc gia tạo ra chúng. đang phát triển đang có nguy cơ không được hưởng lợi từ các thành quả công nghệ này - không chỉ bao gồm những lợi ích công nghệ và kinh tế của đổi mới lượng tử mà còn cả với khả năng tăng cường an ninh quốc gia mà nó hứa hẹn. Việc tiếp cận công nghệ lượng tử chỉ là đặc quyền của một nhóm nhỏ không chỉ phản ánh xu hướng đáng quan ngại của tình trạng cát cứ công nghệ, mà còn phát sinh thêm những thách thức mới, đặc biệt là khi lượng tử có tiềm năng tấn công vào hạ tầng số hiện tại trên khắp thế giới.

Khoét sâu thêm khoảng cách số toàn cầu

Trong khi những ứng dụng thực tiễn của các công nghệ lượng tử chủ yếu vẫn còn tít phía chân trời thì khoảng cách lượng tử toàn cầu ngày một lớn lên và trở nên rõ nét hơn. Trong vòng năm năm qua, tình trạng kiểm soát xuất khẩu các công nghệ liên quan tới lượng tử đã được mở rộng đáng kể. Mỹ ngày một nghiêm ngặt hơn trong bảo vệ nghiên cứu lượng tử của mình, bắt đầu với việc cấm có chủ đích với tám công ty Trung Quốc vào năm 2021, sau đó là việc ban bố những yêu cầu giấy phép xuất khẩu toàn diện với phần cứng lượng tử, phần mềm lượng tử và các hệ lượng tử hoàn thiện vào cuối năm 2024.

Những hạn chế chuyển giao công nghệ liên quan đến lượng tử có thể gốp phần duy trì sự thống trị về mặt quân sự của các nền kinh tế tiên tiến, đồng thời làm méo mó sự phát triển kinh tế ở những nước đang phát triển.

Năm 2021, EU thiết lập một khung khổ thống nhất giới hạn hàng hóa xuất khẩu về công nghệ lưỡng dụng, với việc Pháp, Tây Ban Nha và Hà Lan thi hành các kiểm soát cụ thể với các bit lượng tử chức năng (các đơn vị cơ bản của máy tính lượng tử có thể lưu giữ những đặc tính lượng tử đủ lâu để thực hiện các tính toán tin cậy) và cấm xuất khẩu các hệ vượt quá 34 bit lượng tử. Trung Quốc đã thi hành các biện pháp bảo vệ riêng biệt của mình, đưa cả công nghệ mã hóa lượng tử và công nghệ nhiệt độ siêu thấp (phần thiết yếu cho các máy tính siêu dẫn) vào danh sách các hàng hóa hạn chế xuất khẩu trong năm 2020.

Việc kiểm soát các công nghệ đó đã tạo ra những vòng lặp giới hạn quyền tiếp cận: một mặt các quốc gia đồng minh được quyền trao đổi công nghệ, mặt khác các quốc gia cạnh tranh phải đối mặt với những thách thức ngày một gia tăng khi thiết lập những chương trình nghiên cứu lượng tử của mình. Dẫu những kiểm soát đó thường được hợp thức hóa như cách để giữ bí mật công nghệ với đối thủ nhưng chúng cũng dẫn đến những hệ quả ngoài ý muốn, khi ngăn các nhà nghiên cứu và các tổ chức từ Toàn cầu nam tiếp cận công nghệ.

Lực cản đổi mới sáng tạo

Trong khi những giới hạn chuyển giao công nghệ ngày càng bị thắt chặt, các cách tiếp cận để thúc đẩy hợp tác nghiên cứu đang có thêm nhiều sắc thái. Các khung khổ chia sẻ kiến thức chiến lược cho phép cá nhân nhà nghiên cứu tự do hơn trong việc hợp tác quốc tế. Sự dịch chuyển này phản ánh sự cân nhắc thực tiễn: nguồn nhân lực lượng tử toàn cầu nhỏ và nhiều người xuất sắc trong số đó có xu hướng kết nối quốc tế. Gần một nửa các nhà nghiên cứu lượng tử ở Mỹ là người nước ngoài. Mỹ tiếp tục cho phép chia sẻ thông tin giữa các cá nhân, dẫu có yêu cầu nghiêm ngặt về bảo vệ dữ liệu nghiên cứu. Mỹ cũng phụ thuộc nhiều vào các đối tác EU, Nhật Bản cho những thành phần và vật liệu nghiên cứu chính và khoảng một nửa tác giả các bài báo nghiên cứu về lượng tử của Mỹ là người nước ngoài.

Các quốc gia tiên phong thiết lập tiêu chuẩn kiểm soát công nghệ mới và thường làm tăng chi phí của các quốc gia nghèo.

EU cũng nhận ra và làm theo cách này của Mỹ, khi rút lại những nỗ lực chỉ chia sẻ những sáng kiến nghiên cứu lượng tử với các quốc gia thành viên và hoàn thiện các thỏa thuận hợp tác Anh trong khi xem xét những thỏa thuận tương tự với Thụy Sĩ. Ngược lại, Trung Quốc đã tăng gấp đôi tự cường công nghệ, ưu tiên phát triển nhân tài quốc nội và giới hạn hợp tác quốc tế. Tất cả các cách làm với việc kiểm soát và phát triển công nghệ lượng tử làm dấy lên những câu hỏi về tính công bằng trong tiếp cận công nghệ và gợi ý về những quốc gia bên lề những đặc quyền đổi mới công nghệ đó.

Những hạn chế chuyển giao công nghệ liên quan đến lượng tử có thể gốp phần duy trì sự thống trị về mặt quân sự của các nền kinh tế tiên tiến, đồng thời làm méo mó sự phát triển kinh tế ở những nước đang phát triển. Ví dụ, việc sử dụng mạng lưới truyền thông lượng tử quy mô lớn – mà EU và Canada đều quan tâm – có thể được chứng minh là thiết yếu với cơ sở hạ tầng an ninh thế hệ mới, khiến các quốc gia không thể tiếp cận hệ thống này hoặc hệ thống an ninh lượng tử hiệu quả, có nguy cơ rủi ro bị tấn công từ các đối thủ địa chính trị của mình, hoặc ngay cả các tin tặc tham lam. Tương tự, cảm biến lượng tử được dự báo là có thể đem lại những ứng dụng dân dụng, từ giám sát dịch bệnh đến chụp ảnh y khoa. Tuy nhiên, thứ công nghệ tiên tiến này sẽ có tiềm năng tạo ra những căng thẳng giữa áp lực cho phép các nước nghèo tiếp cận những lợi ích kinh tế liên quan đến công nghệ lượng tử và sự khao khát bảo vệ sự thống trị mang tính chiến lược, cụ thể là những tiên tiến trong ứng dụng quân sự và dân dụng. Việc hình thành các chuỗi cung cấp lượng tử trong khối các quốc gia phát triển bao hàm cả vấn đề này, qua đó làm tăng thêm động cơ cát cứ công nghệ của những người đi trước trong phát triển công nghệ lượng tử.

Một khung không phổ biến mới?

Luận điểm này không phải không có tiền lệ trong lịch sử. Tại thuở bình minh của kỷ nguyên hạt nhân, Tổng thống Mỹ Dwight Eisenhower đã đề xuất sáng kiến "Nguyên tử cho hòa bình" vào năm 1953 – nhằm hỗ trợ phát triển hạt nhân vì mục đích hòa bình để đổi lấy cam kết về ứng dụng phi quân sự. Điều này dẫn đến sự hoàn thiện cơ chế không phổ biến vũ khí hạt nhân, bao gồm cả việc bảo vệ vật liệu và công nghệ hạt nhân được chuyển giao.

Có thể là một khung "Bit lượng tử cho hòa bình" tương tự cho công nghệ hạt nhân chăng? Có lẽ là như vậy nhưng bối cảnh địa chính trị ngày nay ít thuận lợi hơn. Thế giới đa cực ngày này có thể không là một đơn cực duy nhất – hoặc thậm chí là một liên minh duy nhất. Và các quốc gia đang phát triển có thể không chấp nhận đặt các giới hạn lên các công nghệ chiến lược mà họ theo đuổi.

Tuy nhiên, ngay cả nếu các quốc gia tiên tiến đồng ý chuyển giao công nghệ lượng tử thông qua một khung khổ nào đó, sự khác biệt của những ứng dụng lượng tử trong lĩnh vực quân sự cũng là rào cản lớn. Mã hóa và truyền thông lượng tử đang là những lĩnh vực được quan tâm: các quốc gia đều có những mối quan tâm về các hệ thống an ninh quốc gia trong khi vẫn tìm mọi cách để xuyên phá các mạng lưới này của đối thủ. Điều này phản chiếu những tranh cãi kéo đài về mã hóa, giờ lại được thêm phần phức tạp trong kỷ nguyên lượng tử.

Giờ đây thật khó mà hình dung ra một cam kết rộng rãi về bình đẳng trong phát triển lượng tử. Nguy cơ ở đây là một vài chính phủ sẽ độc quyền hóa truyền thông an toàn và các quốc gia đang phát triển, vốn đã tụt hậu lại càng trở nên dễ bị tổn thương hơn.

Để lỡ cuộc cách mạng lượng tử

Nếu không được tiếp cận vào các nguồn lực lượng tử, các nước đang phát triển có thể phải đối diện với ba điều bất lợi. Thứ nhất, cơ sở hạ tầng an ninh có thể trở nên bị rủi ro khi máy tính lượng tử đe dọa phá vỡ các giao thức lượng tử hiện có. Thứ hai, sự cạnh tranh về kinh tế của họ có thể bị giảm sút vì họ mất cơ hội phát triển công nghệ tăng cường lượng tử. Cuối cùng, chủ quyền công nghệ của họ có thể bị xói mòn khi phụ thuộc vào những nhà cung cấp bên ngoài sẽ trở nên khó tránh khỏi.

Điều này có thể làm khuếch đại hơn khoảng cách số hiện tại, và cuối cùng không còn bất cứ hy vọng nào về việc một ngày nào đó, các nước đang phát triển có thể bắt kịp với tiêu chuẩn công nghệ mà các quốc gia phát triển hưởng thụ.

Những tiên tiến lượng tử cho thấy những thách thức đáng kể cho những người chậm chân. Không giống các công nghệ số mà lợi ích được hưởng khắp từ sự lan tỏa công nghệ, các công nghệ lượng tử đe dọa tạo ra những nguy cơ an ninh ngay tức thì và khiến cho hệ thống cơ sở hạ tầng số toàn cầu đứng trước rủi ro chưa từng có trong khi cự tuyệt sự tiếp cận các nguồn lực lượng tử của các quốc gia đang phát triển. Sự thay đổi cách tiếp cận này của các cường quốc lượng tử thông qua việc hướng tới hợp tác nghiên cứu có thể là tín hiệu cho một con đường tiềm năng phía trước, với các khung khổ chia sẻ hiểu biết mang tầm chiến lược rộng mở tới các quốc gia đang phát triển và bắc cầu qua các khoảng cách lượng tử. Khi rót các nguồn lực thúc đẩy công nghệ lượng tử, các quốc gia giàu có cũng cần xem xét để lợi ích không thuộc về một số ít và đảm bảo mọi người có thể tiếp cận nó.□

* Michael Karanicolis là phó giáo sư Luật và chủ tịch Ủy ban Chính sách công và Luật James S. Palmer, ĐH Dalhousie.

Alessia Zornetta, nghiên cứu sinh Luật UCLA.

Thanh Hương dịch

Nguồn: The Digital Divide Meets the Quantum Divide. Just Security. Trung tâm Luật và an ninh Reiss. Trường Luật ĐH New York.

Bài đăng Tia Sáng số 19/2025

Nguồn:https://tiasang.com.vn/khoang-cach-cong-nghe-so-gap-khoang-cach-cong-nghe-luong-tu-4966119.html?fbclid=IwY2xjawQLHu1leHRuA2FlbQIxMQBzcnRjBmFwcF9pZBAyMjIwMzkxNzg4MjAwODkyAAEeHNz2WC47Ku4p4lmapvRns0iOgmALE2cZXlxeUaknf1gVlYQKnfh57DrE64o_aem_k7rS0jxWnRdZR7OJkXhwuA

Việt Nam có nên gia nhập cuộc đua lượng tử

 Thanh Nhàn

Liệu còn có khoảng trống nào đó trong thế giới lượng tử mà những quốc gia nhỏ bé, hạn chế về nguồn lực như Việt Nam có thể chạm đến?

Việt Nam có nên gia nhập cuộc đua lượng tử

IMB phát triển máy tính lượng tử siêu dẫn. Ảnh: SciTech.

Khi giới thiệu về máy tính lượng tử trong chương 11 cuốn sách "Khi con chip lên ngôi", TS. Nguyễn Trung Dân, một nhà vật lý lượng tử tại Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Corning, New York, đã trích dẫn câu nói của giáo sư Seth Lloyd, Viện Công nghệ Massachusetts, "Không cần phải hiểu bản chất của mọi thứ để tạo ra những thiết bị tuyệt vời". Quả thật, một thực tại phản trực giác do cơ học lượng tử miêu tả ẩn chứa những vấn đề đến giờ còn gây tranh cãi nhưng vẫn đủ sức mở ra những hứa hẹn công nghệ mà nhiều người cho rằng sẽ làm thay đổi cuộc chơi. "Chúng ta vẫn chưa hiểu hết về vật lý lượng tử, ví dụ không biết làm sao khi đo thì hàm sóng bị suy sụp, nhưng cái hay của thế giới này là chúng ta đã có thể chế tạo được các thiết bị hoạt động dựa trên các nguyên lý này", TS. Nguyễn Quốc Hưng, Viện Công nghệ Lượng tử, ĐHQGHN, trao đổi với Tia Sáng về điều tưởng chừng như nghịch lý này.

Một tương lai mà vật lý lượng tử hứa hẹn được bắt nguồn từ khám phá của những tên tuổi lớn như Wener Heiseberg, Niels Bohr, Erwin Schrödinger... Ở thời điểm này, dẫu chưa có công nghệ nào thực sự trưởng thành nhưng "có người tin rằng đã và đang khởi đầu một cuộc cách mạng KH&CN mới, gọi là cuộc cách mạng Quantum 2.0. Cuộc cách mạng này còn vĩ đại hơn cuộc cách mạng mà cơ học lượng tử, hay Quantum 1.0 bắt đầu cách đây hơn 100 năm", TS. Nguyễn Trung Dân nhận xét trong cuốn sách của mình.

"Có người tin rằng đã và đang khởi đầu một cuộc cách mạng KH&CN mới, gọi là cuộc cách mạng Quantum 2.0. Cuộc cách mạng này còn vĩ đại hơn cuộc cách mạng mà cơ học lượng tử, hay Quantum 1.0 bắt đầu cách đây hơn 100 năm". (TS. Nguyễn Trung Dân)

Khó có cuộc cách mạng công nghệ nào lại mang màu sắc lãng mạn đến như vậy, khi tất cả những gì chúng ta thấy đều mới chỉ là hứa hẹn. Thật vậy, cuộc cách mạng Quantum 2.0 đang được thúc đẩy bằng những khoản đầu tư công cực lớn ở 30 quốc gia trên toàn cầu với tổng mức đầu tư đã vượt quá con số 40 tỉ USD và được dự đoán sẽ còn tăng hơn nữa vào thập kỷ tới, theo đánh giá của think-tank nghiên cứu chính sách Trung tâm Kinh tế chính trị quốc tế của châu Âu (ECIPE). Họ cho rằng, Trung Quốc đang dẫn đầu về đầu tư công với 15 tỉ USD trong khi các vị trí tiếp theo là châu Âu 10 tỉ USD và Mỹ 5 tỉ USD. Trong khi đó, tài trợ cho các công ty lượng tử cũng gia tăng trong thập kỷ qua, từ 59 triệu USD vào năm 2012 đến 2,3 tỉ USD vào năm 2021, và lên đỉnh 15 tỉ USD vào năm 2024. Tuy nhiên, trong đầu tư tư nhân, với những công ty công nghệ như Google, IBM, Mỹ dẫn đầu với khoảng 44% tài trợ toàn cầu cho lượng tử, xếp trên Anh, Canada, Úc (khoảng 20%), Trung Quốc 17%, châu Âu 12% [1].

Những con số đầu tư cho công nghệ lượng tử ở các quốc gia phát triển này đặt ra câu hỏi: Liệu có phải rồi ai cũng có chỗ đứng dưới ánh nắng Mặt trời? Liệu còn có khoảng trống nào đó trong thế giới lượng tử mà những quốc gia nhỏ bé, hạn hẹp về nguồn lực có thể chạm đến? Phải chăng lượng tử vĩnh viễn là một thực tại không tưởng với Việt Nam?

Việc trả lời những câu hỏi này là một cách để chúng ta tự giải cho mình một nan đề khác: rút cục Việt Nam có nên đầu tư vào lượng tử? nếu có thì bắt đầu từ đâu?

Nhìn từ vùng rìa thế giới lượng tử

Cơ học lượng tử đang tỏa sức nóng trên những vùng địa lý thịnh vượng và dồi dào các nguồn tài nguyên, cả về kinh tế, công nghệ lẫn nhân lực. Thi thoảng, chúng ta lại nghe thấy báo chí nhắc đến những từ khóa "uy quyền lượng tử", "đột phá", "kỷ lục" về truyền thông lượng tử hay tính toán lượng tử... như những lời nhắc nhở về sự tồn tại của thế giới đó. "Khi đài báo bắt đầu đưa tin về công nghệ lượng tử thì có nghĩa cơ học lượng tử đã bắt đầu ra khỏi tháp ngà khoa học để đi vào đời sống. Dĩ nhiên, vẫn còn cả một chặng đường rất xa để lượng tử đi vào đời sống theo nghĩa tạo ra những tác động trong đời sống thật nhưng giờ công nghệ lượng tử đã tạo ra nhiều công ty startup, gặt hái được nhiều tài trợ", TS. Nguyễn Quốc Hưng nói, có lẽ muốn đề cập đến những tên tuổi lớn như Quantinuum (Anh), PsiQuantum (Mỹ), Alice&Bob (Pháp), Quantum Delta Delft (Hà Lan), D-Wave, Xanadu (Canada)...

Sự hiện diện của các startup cho thấy lượng tử đang dịch chuyển từ bảng đen, phấn trắng và phòng thí nghiệm ra đến các công ty để chuẩn bị ra thị trường. Theo một nghiên cứu của Viện Đánh giá công nghệ và Phân tích hệ thống (Đức), hơn 92% startup lượng tử đã được thành lập trong vòng 10 năm qua và 68 % trong vòng năm năm [2[. Cho đến nay, số vốn mà các startup lượng tử trên thế giới gọi được, cả từ khu vực công lẫn khu vực tư, đều vượt qua sức tưởng tượng: lĩnh vực máy tính và bộ xử lý lượng tử đã gọi được 8,4 tỉ USD tài trợ, lĩnh vực phần mềm máy tính lượng tử gọi được 2,2 tỉ USD, viễn thông lượng tử 81 triệu USD [3]. Còn theo dự đoán của Công ty Tư vấn McKinsey, những ngành hóa học, khoa học sự sống, tài chính và vận tải sẽ đón nhận những tác động sớm của công nghệ lượng tử, có thể đem lại giá trị hai nghìn tỉ USD trong vòng thập kỷ tới [4].

Cuộc chạy đua phát triển máy tính lượng tử này khiến mỗi khi nói đến công nghệ lượng tử là người ta thường hình dung ra các cỗ máy tính lượng tử với hàng trăm, hàng nghìn qubit (bit lượng tử) nhưng công nghệ này thực tế còn phức tạp và đa dạng hơn thế, với ba lĩnh vực chính là tính toán lượng tử, truyền thông lượng tử và cảm biến lượng tử.

Có vẻ như thật mơ mộng khi nghĩ đến viễn cảnh, các công nghệ lượng tử sẽ tạo ra những điều tưởng như không thể ở ngày hôm nay thành hiện thực, ví dụ như nhìn vào sâu dưới lòng đất hoặc xuyên "hai vạn dặm dưới đáy biển", thực hiện những nhiệm vụ tính toán phức tạp như mô hình hóa các phản ứng sinh học phân tử và hóa học, điều nằm ngoài năng lực của các siêu máy tính hàng đầu thế giới. Lượng tử cũng giúp gửi những thông tin bí mật một cách an toàn hơn tới bất cứ nơi nào trên thế giới và chẩn đoán dịch bệnh nhanh hơn, chính xác hơn bằng việc phân tích sâu vào bên trong các tế bào.

Sự hiện diện của các startup cho thấy lượng tử đang dịch chuyển từ bảng đen, phấn trắng và phòng thí nghiệm ra đến các công ty để chuẩn bị ra thị trường.


Những hứa hẹn về tương lai công nghệ lượng tử được xây dựng dựa trên hai nguyên tắc cơ bản của lý thuyết lượng tử là sự chồng chập của các trạng thái cùng lúc và việc rối giữa các hạt ở khoảng cách xa. Nhưng vướng mắc lớn nhất hiện nay mà công nghệ lượng tử phải đương đầu cũng nằm chính ở đó: việc thao tác và xử lý trạng thái rối giữa các hạt, trong trường hợp của máy tính lượng tử là trạng thái rối của các bit lượng tử. Bất chấp việc các nhóm nghiên cứu, các startup, các tập đoàn công nghệ có thể tạo ra hàng ngàn bit lượng tử nhưng các màn trình diễn trên máy tính của họ vẫn chứa tỷ lệ lỗi đáng kể. "Trong hai mươi năm qua, người ta mới chế tạo được máy tính lượng tử có nhiễu quy mô trung bình (Noisy Intermediate-Scale Quantum NISQ). Đó thực sự là một tuyệt tác công nghệ lượng tử. Từ IBM hay Google đều là máy NISQ, nhưng dù họ có 100 qubit hay 1000 qubit hay thậm chí là 1 triệu qubit thì kết quả tính toán của họ, 1 cộng 1 vẫn bằng ba. Không chính xác, do đó nó chưa ứng dụng được vào đời sống thực tế", TS. Nguyễn Quốc Hưng, người từng tham gia dự án Microsoft tại Viện Niels Bohr, Copenhagen vào năm 2018, phân tích. "Dòng tiền đầu tư đổ vào như nước nhưng mới giải quyết được các vấn đề kỹ thuật mà vẫn bí về mặt nguyên tắc trong giải quyết những cái mới tích tụ 20 năm qua".

Các khía cạnh khác của tính toán lượng tử cũng đang ở giai đoạn sơ khai, dù có rất nhiều hứa hẹn. "Khi sử dụng các hệ lượng tử để tính toán thông tin, người ta kỳ vọng là có thể có một số thuật toán tận dụng được các thuộc tính lượng tử để có thể song song hóa lượng tử và đẩy nhanh tốc độ tính toán theo cấp số nhân so với tính toán cổ điển", TS. Nguyễn Văn Duy, một nhà nghiên cứu về tính toán lượng tử ở Viện nghiên cứu Tiên tiến Phenikaa (PIAS), trường ĐH Phenikaa, nói và chỉ ra vấn đề vướng mắc "Hiện tại về mặt toán học đã tạo ra một số thuật toán và chứng minh được là có thể tạo nên được ưu thế lượng tử đó, ví dụ như thuật toán Shor phá mã hóa. Người ta hy vọng là nó sẽ giải được nhiều bài toán trong thế giới thực, chẳng hạn như đột phá về tính toán hoặc tạo ra giải pháp năng lượng cho hạ tầng AI. Tuy nó được kỳ vọng nhưng vẫn ở giai đoạn sơ khai chưa tìm được ứng dụng".

Những hứa hẹn về tương lai công nghệ lượng tử được xây dựng dựa trên hai nguyên tắc cơ bản của lý thuyết lượng tử là sự chồng chập của các trạng thái cùng lúc và việc rối giữa các hạt ở khoảng cách xa.

Nỗi chật vật trong việc tìm đường vượt qua thách thức khiến nhiều người ở những lĩnh vực khác không tin là sẽ giải quyết được bài toán trong nay mai. "Thậm chí, nhiều người đang theo đuổi thì như đặt cược niềm tin vào việc có thể vượt qua được thách thức đó", TS. Nguyễn Văn Duy, không ngần ngại chia sẻ góc nhìn này.

Vậy những quốc gia nhỏ bé nằm ở vùng rìa của các trung tâm lượng tử, như Việt Nam, nơi vẫn còn đang chật vật với nhiều bài toán cơ bản về tồn tại và phát triển, có cần tham gia vào một đường đua đang dựng sẵn vô số rào cản?

Việt Nam có nên gia nhập cuộc đua lượng tử - 1

Đồ họa 3D về một máy tính lượng tử đang hoạt động. Ảnh: iStock.

Chọn một dòng hay để nước trôi?

Lượng tử hào nhoáng và khó xơi, mắc mớ gì mà Việt Nam phải nhảy vào? Tiềm lực ở đâu để rót vào những cỗ máy chỉ biết ngốn tiền đó? Có thể ai đó sẽ nói như vậy, khi nhìn vào tiến trình chạy đua thiết kế và chế tạo máy tính lượng tử trên thế giới.

Việc dõi theo cuộc chạy đua công nghệ lượng tử từ vùng rìa cũng có thể đem lại cho người quan sát những thông tin hữu ích. Nó cho phép người ta đánh giá vấn đề đúng đắn hơn, sâu sắc hơn và cũng thực tế hơn, thậm chí có thể giúp loại bỏ những động tác "thừa thãi". Đặt Việt Nam vào bối cảnh sôi sùng sục của thế giới lượng tử, TS. Nguyễn Quốc Hưng phân tích "Hiện nay, thế giới đang đi vào giai đoạn thứ hai, giai đoạn phát triển máy tính lượng tử kháng lỗi (Fault-Tolerant Quantum Computing FTQC), cỗ máy có thể sẽ cho kết quả 1+1=2 với mức độ chính xác đủ ứng dụng trong thực tế. Phải có máy kháng lỗi thì mới có thể giải được bài toán thực. Ở giai đoạn hiện tại, cả ba hướng tiếp cận là siêu dẫn, bẫy ion và photonics đều ở giai đoạn cuối của NISQ và dần chuyển sang FTQC. Mấy năm tới, lượng tử sẽ có số qubit rất nhỏ nhưng ‘đắt xắt ra miếng’, ví dụ, có thể chỉ là 5 qubit nhưng độ chính xác cao để ứng dụng trong thực tiễn. Trên thực tế thì có nhiều bài toán tỉ đô có thể được giải quyết với 50 qubit đủ chính xác".

Đó chính là cửa sổ cơ hội cho những quốc gia như Việt Nam, theo góc nhìn của TS. Nguyễn Quốc Hưng. "Thế giới đang mấp mé chuyển giao của hai thời kỳ và giờ thì thế giới đã biết cách chế tạo qubit, biết cách chế tạo 100 hay 1000 qubit. Từ những diễn biến ở bên ngoài cũng như nội lực của Việt Nam, tôi thấy đây là cửa sổ rất tốt cho Việt Nam tham gia, với ba lý do chính 1) dạng máy table top, máy cỡ nhỏ, không quá đắt, dù cũng không rẻ; 2) giai đoạn chuyển giao của thế giới từ NISQ sang FTQC, do đó mình có thể đi sau mà vẫn bắt kịp chứ khi thế giới họ đã tiến nhanh và đi xa rồi thì mình tốn rất nhiều thời gian; 3) nội lực trong nước trong thời gian gần đây, kể cả nhân lực lẫn chính sách đều rất thuận lợi", anh nói.

Việt Nam có nên gia nhập cuộc đua lượng tử - 2

Các bạn trẻ háo hức ngắm nhìn chip tính toán lượng tử 5 qubit trong khuôn khổ Quantum day ở VIASM. Ảnh: VIASM.

Nỗi sợ tụt hậu về mặt công nghệ, trong suy nghĩ của những người làm khoa học, không phải không có căn cứ. Trong quá khứ, vào những năm 1980, Việt Nam đã bắt đầu rục rịch với công nghệ bán dẫn và có nơi sản xuất là nhà máy Z181 với các linh kiện bán dẫn xuất khẩu như diode, transistor. Tuy nhiên, sau những biến động thời cuộc địa chính trị thế giới vào đầu những năm 1990 mà giấc mơ bán dẫn đã khép lại, để rồi đến năm 2024, vấn đề mới được đặt trở lại bởi nhiều lý do, trong đó có sự thúc đẩy của tự chủ công nghệ. "Việt Nam từng bỏ lỡ một cơ hội như thế. Giờ cũng đang như thế, nhưng dĩ nhiên hồi đó công nghệ chip đã tương đối định hình còn bây giờ công nghệ lượng tử còn đang ở giai đoạn sơ khai", TS. Nguyễn Quốc Hưng nhận xét.

Bài học từ bán dẫn cho thấy, nếu không làm chủ công nghệ lõi thì Việt Nam sẽ ngày càng tụt hậu. Công nghệ lượng tử đang hứa hẹn một khả năng là một khi đã định hình thành công nghệ hoàn chỉnh, nó có thể thay đổi thế giới. Theo nhận xét của Just Security, một tạp chí của Trung tâm Luật và An ninh Reiss, Trường Luật ĐH New York, "các công nghệ lượng tử có tiềm năng làm đảo lộn bối cảnh kinh tế, xã hội và an ninh quốc gia"[5]. Do đó, TS. Nguyễn Quốc Hưng cho rằng "Nếu mình đã làm NISQ rồi thì mình có thể sở hữu được công nghệ lõi, mình biết cách làm thế nào, chứ còn đến lúc thế giới hoàn thiện được FTQC thì rất có thể họ sẽ giữ chặt lấy công nghệ. Và nếu có một vài dạng công nghệ cao nào đó được một số quốc gia cấm xuất khẩu thì rất có thể mình sẽ phải mua chúng với giá cực kỳ đắt, hoặc không thể mua được". Có thể trong tương lai, chúng ta sẽ phải ‘bán lúa đi mua máy’, nếu không tự chủ được công nghệ.

"Lượng tử không còn chỉ là lý thuyết nữa, nó đã đi vào cuộc sống, nó hứa hẹn trở thành công nghệ. Nó là thứ cầm được trên tay, cần phải có đầu tư đúng, phải có người và phòng thí nghiệm".
TS. Nguyễn Quốc Hưng

Những biến động về địa chính trị vài năm trở lại đây khiến Mỹ và nhiều quốc gia đã nghĩ đến chủ quyền công nghệ, ví dụ Mỹ như hạn chế xuất khẩu chip AI tiên tiến do Nvidia sản xuất sang Trung Quốc. Đó là lý do mà TS. Nguyễn Văn Duy cũng cho rằng "Nếu công nghệ lượng tử thuộc nhóm các công nghệ cao hạn chế tiếp cận thì mình bắt buộc sẽ phải tự lực, nếu không mình sẽ tụt hậu quá xa so với thế giới".

Có nhiều ý kiến thực tế và thận trọng khi lập luận rằng, với Việt Nam, việc phát triển phần cứng lượng tử vô cùng xa vời theo nghĩa, chúng ta không thể chạy đua với các quốc gia hàng đầu hoặc các tập đoàn công nghệ đa quốc gia, sẵn sàng không tiếc tiền nuôi công nghệ. Nhưng "câu chuyện ở đây là Việt Nam khó có lựa chọn nào khác. Mặc dù bây giờ mình bắt đầu đã là khá chậm so với thế giới nhưng lượng tử là công nghệ mang tính chất quyết định trong tương lai. Hiện tại có thể thấy trong lĩnh vực bán dẫn, Việt Nam đã đi sau thế giới rất nhiều.", TS. Nguyễn Văn Duy nói.

Ở khu vực Đông Nam Á, không chỉ có sự hiện diện của Singapore với mục tiêu trở thành hub lượng tử tầm cỡ quốc tế và chen chân vào được bản đồ công nghệ lượng tử toàn cầu, các quốc gia khác cũng đang có những tham vọng riêng mình trong lĩnh vực này. "Nhiều quốc gia nhỏ với những đầu tư không quá lớn nhưng vẫn đủ sức tạo ra những đột phá về lượng tử như Singapore, bên cạnh Canada, Israel..., cũng đã có những kết quả rất tốt", TS. Nguyễn Trung Dân nói về những kết quả mà Singapore đã thu được sau gần hai thập kỷ đầu tư vào Trung tâm Các công nghệ lượng tử (CQT).

Để có thể phát triển được công nghệ lượng tử, cũng như nhiều quốc gia đi trước, Việt Nam cần có một chiến lược quốc gia về lượng tử cũng như lộ trình thực hiện, các sáng kiến, dự án quốc gia, và dĩ nhiên là các cơ chế, chính sách được thiết kế để thúc đẩy những điều đó.

Dù được khích lệ bằng minh chứng của những quốc gia nhỏ với nguồn lực đầu tư không quá lớn nhưng con đường phát triển công nghệ lượng tử của Việt Nam vẫn chưa rõ ràng. Thế giới lượng tử rộng lớn và phức tạp, tỏa ra vô số nhánh công nghệ và vô số ứng dụng, Việt Nam không thể đủ nguồn lực, cả về tiền tài lẫn nhân lực, để căng mình ôm tất. Vậy đâu là con đường hợp lý để Việt Nam có thể dấn bước?

Đi tìm cách tiếp cận cho Việt Nam

Từ nhận định đến lựa chọn và tập trung vào R&D một cách thực sự là cả một chặng đường, buộc người ta phải nhảy vào lửa để làm thật chứ không chỉ ngồi nói chuyện suông và mộng mơ. Hơn ai hết, các nhà nghiên cứu thận trọng khi đề cập đến một kế hoạch, một đường hướng mà Việt Nam có thể lựa chọn một cách khôn ngoan. "Lượng tử không còn chỉ là lý thuyết nữa, nó đã đi vào cuộc sống, nó hứa hẹn trở thành công nghệ. Nó là thứ cầm được trên tay, cần phải có đầu tư đúng, phải có người và phòng thí nghiệm", TS. Nguyễn Quốc Hưng nói với tâm thế của người thực chiến, muốn thấy Việt Nam có một sản phẩm lượng tử thực sự nào đấy. Vào tháng 5/2025 vừa rồi, anh có tham gia tổ chức Quantum day ở Viện nghiên cứu cao cấp về Toán (VIASM), mượn một con chip lượng tử từ Singapore về trình diễn, "khá gây ấn tượng".

Nhưng dù lựa chọn phát triển công nghệ nào và lộ trình phù hợp ra sao thì vấn đề mấu chốt vẫn là con người. Đó cũng là một giới hạn, khi xét đến số lượng người làm nghiên cứu lượng tử ở Việt Nam.

Nhưng muốn có đầu tư đúng, trước hết cần phải biết lộ trình. Ở Việt Nam, tất cả vẫn còn chưa rõ ràng. Vào cuối tháng 8/2025, Mạng lưới lượng tử Việt Nam (VNQuantum) đã được Trung tâm Đổi mới sáng tạo Việt Nam (Bộ Tài chính) cho ra mắt như động thái đầu tiên sau khi công nghệ lượng tử được đưa vào danh sách các công nghệ chiến lược, được công bố vào tháng 6/2025 theo quyết định của Chính phủ. Tuy nhiên, cần có nhiều hành động hơn thế. Để có thể phát triển được công nghệ lượng tử, cũng như nhiều quốc gia đi trước, Việt Nam cần có một chiến lược quốc gia về lượng tử cũng như lộ trình thực hiện, các sáng kiến, dự án quốc gia, và dĩ nhiên là các cơ chế, chính sách được thiết kế để thúc đẩy những điều đó.

Việc hình thành một chiến lược quốc gia về lượng tử sẽ giúp Việt Nam xác quyết được những nền tảng công nghệ nào cần theo đuổi, dựa trên tiềm năng và tiềm lực. "Tôi nghĩ rằng bây giờ về thượng tầng có chủ trương, khi nhìn nhận lượng tử là công nghệ chiến lược và có những chính sách thúc đẩy như Nghị quyết 57, Luật KH&CN sửa đổi nhưng để từ chủ trương thành thực tiễn thì cần nỗ lực từ bên dưới. Khi chúng ta chưa biết phải bắt đầu như thế nào, từ đâu thì cần phải có chuyên gia bàn bạc. Chính phủ phải là người đứng ra khởi xướng vấn đề này", TS. Nguyễn Văn Duy, nêu góc nhìn của người từng làm tính toán lý thuyết trong một nhóm nghiên cứu phần cứng lượng tử ở ĐH Grenoble -Alpes, Pháp và về nước, nghiên cứu tính toán lượng tử tại Viện PIAS.

"Cái khó của Việt Nam là những nhà lý thuyết lại làm đủ mọi lĩnh vực và không mấy quan tâm đến ứng dụng. Đây là điều mà Việt Nam nên thay đổi và bằng chính sách đầu tư, ví dụ như dùng quỹ nghiên cứu để định hướng các nhà lý thuyết này vào những lĩnh vực định hướng chung. Họ không phải làm 100% thời gian nhưng chỉ cần 50-60% thời gian cũng có ích cho bản thân họ và quốc gia". (TS. Nguyễn Trung Dân)

Nhưng nền tảng nào thực sự khả thi và vừa tầm với Việt Nam luôn luôn là câu hỏi thường trực. Ai cũng có sự lựa chọn thuận theo lĩnh vực mình theo đuổi. Mỗi người là mỗi góc nhìn và mỗi cách làm khác nhau. Sự đa dạng trong suy nghĩ cũng phản ánh sự phức tạp và rộng lớn của thế giới lượng tử. "Mọi người hay chia ra thành truyền thông lượng tử, tính toán lượng tử, cảm biến lượng tử. Tôi thì không chia như vậy mà chia thành mức độ lượng tử trong những linh kiện mình chế tạo ra. Những "siêu công nghệ" như máy tính lượng tử hoàn toàn hoạt động dựa trên nguyên lý lượng tử có lẽ cần một thời gian nữa để phát triển. Gần với thực tế hơn, các cỗ máy lượng tử hiện tại có thể được bổ sung, kết hợp với các cỗ máy cổ điển để tìm kiếm các ứng dụng thực tế ngay lập tức. Đây là hướng của tính toán lượng tử lai hoá, như học máy lượng tử,". TS. Nguyễn Quốc Hưng phân tích. Từ góc nhìn khác biệt này, anh đề xuất một cách tiếp cận "Có thể không lượng tử gì cả, mình nên phát triển công nghệ phụ trợ cho các thiết bị lượng tử, ví dụ máy làm lạnh cho linh kiện siêu dẫn, hay thiết bị điện tử để điều khiển lượng tử. Mình không nhất thiết phải làm thiết bị lượng tử nhưng mình có thể chế tạo "ốc vít" cho lượng tử mà cái ốc vít ấy không mua được ở bất cứ đâu trên thế giới, có thể chỉ mua được ở Việt Nam". Đôi khi, chỉ cần nhìn nhận vấn đề dưới một góc độ khác thì câu chuyện cũng đã thay đổi và mở ra một con đường mới. "Thị trường có thể chỉ là thị trường ngách, thị trường nhỏ nhưng nếu mình cung cấp được công nghệ đủ tốt là cả thế giới phải mua. Phát triển các công nghệ chuyên sâu này cũng giúp Việt Nam nâng tầm các sản phẩm made in Vietnam".
Dĩ nhiên không phải muốn là người ta có thể làm được sản phẩm kiểu "ốc vít cho lượng tử". Nó cần phải có sự tích lũy của know-how, thử và sai cũng như những vật vã trong phòng thí nghiệm. "Muốn làm được cái đó thì mình phải có công nghệ lõi", TS. Nguyễn Quốc Hưng nói.

Thật tình cờ, khi bài báo này lên khuôn, giải Nobel Vật lý 2025 đã được trao cho ba nhà khoa học John Clarke, Michael H. Devoret và John M. Martinis "bởi những khám phá xuyên hầm lượng tử vĩ mô và lượng tử hóa năng lượng trong một mạch điện".
Những nỗ lực của họ đã góp phần đem lại những cơ hội phát triển các công nghệ lượng tử thế hệ mới, bao gồm mật mã lượng tử, máy tính lượng tử và cảm biến lượng tử.

Và muốn có công nghệ lõi thì phải đầu tư vào phòng thí nghiệm. Nhưng liệu Việt Nam có nhiều tài lực để dựng lên những phòng thí nghiệm như thế giới? "Cách nhìn của tôi là Việt Nam có thể chọn một hướng mà không cần đầu tư quá nhiều tiền, ví dụ tính toán lượng tử siêu dẫn hay tạo mã phân phối lượng tử QKD. Điều đặc trưng của công nghệ lượng tử là các cỗ máy này có thể đặt trên bàn – table top, trong căn phòng diện tích không quá lớn. Nó không quá to như công nghệ vũ trụ hay hạt nhân, nói chung vừa miếng với Việt Nam", TS. Nguyễn Quốc Hưng phân tích như xua đi nỗi lo lắng về các cỗ máy ngốn tiền. "Không cần phải những cú đầu tư siêu tốn kém trong khi có thể tạo ra vài ba lab như thế, vì vậy về mặt tài chính là vừa với Việt Nam". Anh giải thích, "chúng tôi có khái niệm những thí nghiệm mà máy có thể đặt lên trên bàn được (tabletop experiments), không phải đầu tư quá đà, phù hợp với năng lực đầu tư của Việt Nam. Một khoản đầu tư phù hợp như thế mà mình bỏ qua, bỏ lỡ thì thật đáng tiếc".

Có lẽ, hướng tiếp cận của một quốc gia trong phát triển công nghệ lượng tử cần góc nhìn của nhiều chuyên gia như thế. Việc quy tụ nhiều chuyên gia để cùng nhau "bão não" về lộ trình cho Việt Nam cũng là điều mà TS. Nguyễn Văn Duy suy nghĩ. "Cần phải cả một hội đồng gồm các chuyên gia lượng tử Việt Nam và quốc tế để xác định những hướng có thể phù hợp với nguồn lực mình có. Nó cần cả một thảo luận rất lớn để chọn ra hướng phù hợp cho phát triển kinh tế trong tương lai và thậm chí có thể chuẩn bị cho một tương lai mà máy tính lượng tử thành hiện thực".

Nhưng dù lựa chọn phát triển công nghệ nào và lộ trình phù hợp ra sao thì vấn đề mấu chốt vẫn là con người. Đó cũng là một giới hạn, khi xét đến số lượng người làm nghiên cứu lượng tử ở Việt Nam. "Khó khăn lớn nhất ở các nơi nghiên cứu lượng tử là nhân lực, chi vào đâu cũng cần có người", TS. Nguyễn Quốc Hưng nói.

Mặc dù nguồn nhân lực trong nước hạn chế nhưng người Việt Nam ở nước ngoài làm về lượng tử thì khá nhiều, hầu hết các nhà nghiên cứu mà Tia Sáng tiếp cận đều cho biết như vậy. Liệu có cách nào tận dụng được nguồn lực này và kết nối họ với các đồng nghiệp trong nước? "Tôi có gặp một đội chế tạo máy tính lượng tử ở Pháp sang Việt Nam, tôi mới hỏi ‘tại sao lại sang Việt Nam’ thì họ nói ‘có một công ty tin học Việt Nam mà bọn tôi thuê ngoài để lập trình cho hoạt động của phần cứng lượng tử’. Tôi hỏi tiếp ‘thế sao các ông lại thích Việt Nam’, ‘à, đội kỹ thuật của tôi có rất nhiều du học sinh Việt Nam đã tốt nghiệp tại Pháp, toàn những vị trí quan trọng’, TS. Nguyễn Quốc Hưng dẫn ví dụ về nguồn nhân lực công nghệ lượng tử ở nước ngoài và đề xuất: cần cơ chế để mời họ về, hợp tác với anh em trong nước. "Nếu có dự án lớn về lượng tử ở trong nước thì có thể mời họ về và quy tụ được lực lượng trong nước. Đó cũng là một cách sử dụng nguồn lực hiệu quả".

Việt Nam có nên gia nhập cuộc đua lượng tử - 3

Ảnh chụp chip tính toán lượng tử 5 qubit trên kính hiển vi điện tử. Ảnh: ĐH Quốc gia Singapore

Dĩ nhiên mời người về không dễ, có rất nhiều tình huống và rào cản đặt ra. "Đặc thù của ngành lượng tử trên thế giới bây giờ là không thiếu tiền, chỉ thiếu người. Cách đây mấy năm, các công ty công nghệ Trung Quốc như Huawei, Alibaba đã đón lõng tiến sĩ tốt nghiệp ở các lab lượng tử Mỹ với mức lương 300.000 USD/năm rồi. Liệu Việt Nam có làm được như vậy không?", TS. Nguyễn Quốc Hưng đặt vấn đề và cho rằng phải chấp nhận một thực tại là "lương 100.000 USD thì khó mời về còn 300.000 USD thì liệu có cơ chế để trả được không?".

Mặt khác, quá trình phát triển công nghệ lượng tử nói chung và máy tính lượng tử nói riêng, cho thấy nhiều thách thức trên tiến trình này. Những gì sẽ diễn ra ở Việt Nam sẽ khó có ngoại lệ. "Vậy liệu Việt Nam có dám đặt niềm tin hoàn toàn vào họ không? Liệu họ có phải chịu trách nhiệm cho những thất bại không? Tôi nghĩ cần phải một cơ chế để vượt qua những tình huống phức tạp như vậy. Nói chung là cần giảm thiểu các tình huống con gà quả trứng đi nhưng rõ ràng có rất nhiều con gà quả trứng để phát triển hướng công nghệ chiến lược này", anh nêu vấn đề.

Câu chuyện khai thác đối đa nguồn lực cho lộ trình phát triển của Việt Nam bao giờ cũng đầy rẫy những trăn trở như thế. Làm sao thiết kế được những chính sách và cơ chế đủ mở để khuyến khích các nhà nghiên cứu, quy tụ được nguồn lực? Thậm chí, những chính sách ấy không chỉ hướng đến những tên tuổi ở nước ngoài mà còn phân bổ cho nguồn lực trong nước. Theo kinh nghiệm của một người đã nghiên cứu nhiều năm trong trường đại học và giờ làm việc cho một trung tâm phát triển công nghệ lượng tử tại Mỹ, TS. Nguyễn Trung Dân lưu ý, đội ngũ những người làm công nghệ lượng tử cũng không nhất thiết phải gồm toàn những người làm thực nghiệm. "Khác với nhiều lĩnh vực khác, công nghệ lượng tử cần có một đội ngũ lý thuyết mạnh và đây là thế mạnh của Việt Nam được thừa hưởng từ thời bao cấp mà nhiều nước ở hoàn cảnh tương tự không có được". Tuy nhiên, thế mạnh này cũng không hẳn dễ khai thác. "Cái khó của Việt Nam là những nhà lý thuyết lại làm đủ mọi lĩnh vực và không mấy quan tâm đến ứng dụng. Đây là điều mà Việt Nam nên thay đổi và bằng chính sách đầu tư, ví dụ như dùng quỹ nghiên cứu để định hướng các nhà lý thuyết này vào những lĩnh vực định hướng chung. Họ không phải làm 100% thời gian nhưng chỉ cần 50-60% thời gian cũng có ích cho bản thân họ và quốc gia".

Việc vượt qua rào cản trên đường phát triển công nghệ của lượng tử, hay vượt qua thách thức của những nhiệm vụ khoa học khác, đều có thể được tiếp sức bằng sự tin tưởng và tôn trọng nhà khoa học. "Họ rất cần được lắng nghe, được bảo vệ, được khuyến khích làm điều đúng. Và được sai, trong một giới hạn của sáng tạo", như chia sẻ của PGS. TS Nguyễn Phương Thảo (ĐH Quốc tế, ĐHQG-TPHCM) [6]. Câu chuyện cơ chế và chính sách cho phát triển công nghệ lượng tử, do đó, không chỉ là tiền mà còn là việc tạo ra một môi trường tôn trọng khoa học thật sự. "Dù quan trọng nhưng vấn đề tài chính không phải là then chốt của người làm nghiên cứu. Cần phải có được môi trường để những người làm lượng tử có thể yên tâm làm việc", TS. Nguyễn Văn Duy nói.

Dẫu có nhiều khó khăn nhưng không phải không có ánh sáng phía chân trời. Nhiều trường đại học bắt đầu rục rịch chương trình đào tạo lượng tử trên đại học, mời gọi các nhà nghiên cứu ở nước ngoài về, một số tổ chức lên kế hoạch lập các phòng thí nghiệm lượng tử... Chưa rõ các chuyển động mới sẽ dẫn đến đâu và chiến lược, chính sách quốc gia cho lượng tử sẽ được thiết kế như thế nào, nhưng dự định cá nhân của những người làm lượng tử đã rõ. TS. Nguyễn Quốc Hưng, người mới được bổ nhiệm vào vị trí Viện trưởng Viện Công nghệ lượng tử (ĐHQGHN) tự đặt ra cho mình một cái đích "Tôi sẽ cố gắng sở hữu công nghệ lõi ở Việt Nam, trực tiếp chế tạo con chip qubit ở ĐHQGHN, hy vọng có thể chế tạo trong một vài năm tới. Tôi không dám hứa là sẽ làm được cái gì mới nhưng tôi nghĩ là tôi sẽ có được công nghệ lõi, chế tạo vận hành máy đó ở Việt Nam, 5 qubit có gì mà không làm được".

Ước mơ lượng tử, đến bao giờ sẽ thành thực tại lượng tử, tại Việt Nam? □

--------------------------------------------

Chú thích

  1. https://ecipe.org/publications/benchmarking-quantum-technology-performance/
  2. "The landscape of the quantum start-up ecosystem". EPJ Quantum Technology. 2022
  3. Global Quantum Computing startups | Dealroom.co
  4. https://www.mckinsey.com/capabilities/mckinsey-digital/our-insights/steady-progress-in-approaching-the-quantum-advantage#/
  5. https://www.justsecurity.org/111044/series-governing-quantum-revolution/
    https://tiasang.com.vn/doi-moi-sang-tao/radar-luong-tu-co-the-thay-doi-cach-nghi-ve-an-ninh-quoc-gia-24227/
  6. https://tiasang.com.vn/quan-ly-khoa-hoc/thieu-niem-tin-khoa-hoc-khong-the-cat-canh/

Bài đăng Tia Sáng số 19/2025

Nguồn:https://tiasang.com.vn/viet-nam-co-nen-gia-nhap-cuoc-dua-luong-tu-4966125.html?fbclid=IwY2xjawQLHapleHRuA2FlbQIxMQBzcnRjBmFwcF9pZBAyMjIwMzkxNzg4MjAwODkyAAEe6WLvBrx1BWI8QKKFaQbzb-jnOp5cSwCKm8PgalVlJCc2TIiKcrsOpTkynxw_aem_LL3dVOBvC-a_dg7j0EBSwQ