Thứ Ba, 12 tháng 5, 2026
Người thầy, nếu được hiểu đúng, không phải là một điểm tựa để bám vào, mà là một điểm tựa để vượt qua.
Lịch sử cho thấy những bi kịch của niềm tin không nằm ở sự tồn tại của các đạo sư, mà nằm ở việc người học sẵn sàng từ bỏ khả năng suy nghĩ độc lập của mình để đổi lấy cảm giác được dẫn dắt. Khi đó, tri thức không còn là quá trình khám phá, xây dựng và phát triển, mà trở thành sự lặp đi lặp lại một tư duy; và người học, thay vì trưởng thành, lại dần phụ thuộc vào chính nguồn sáng mà họ tin tưởng.
Jiddu Krishnamurti từng cảnh báo về sự lệ thuộc tâm lý, nhưng điều này không phủ nhận vai trò của người thầy. Một người thầy chân chính không cung cấp câu trả lời hoàn chỉnh, mà tạo ra những va chạm đủ sâu để buộc tư duy của người học phải tự vận động. Họ không trao chân lý như một kết luận, mà khơi gợi khả năng tự nhìn thấy. Nếu thiếu đi sự khai mở ban đầu ấy, phần lớn con người sẽ bị giới hạn trong chính những gì họ đã quen thuộc, mà không hề nhận ra.
Tuy nhiên, giá trị của người thầy chỉ thực sự phát huy khi người học không dừng lại ở việc tiếp nhận. Bởi mọi tri thức, nếu không được kiểm chứng và tái khám phá bằng trải nghiệm cá nhân, đều chỉ là ký ức vay mượn. Thực tại luôn vận động, trong khi mọi hệ thống tư tưởng đều mang dấu ấn của quá khứ; vì vậy, nếu người học không tự quan sát và đặt lại câu hỏi, chính những điều từng giúp họ tiến bộ sẽ dần trở thành giới hạn vô hình.
Do đó, mối quan hệ đúng đắn giữa thầy và trò không phải là sự dẫn dắt một chiều, mà là một quá trình chuyển hóa. Người thầy mở ra cánh cửa nhận thức, nhưng việc bước qua cánh cửa đó lại là trách nhiệm của người học.
Và đến một điểm nào đó, giá trị lớn nhất mà người thầy để lại không phải là những gì đã dạy, mà là khả năng để người học có thể tiếp tục đi xa mà không còn cần dựa vào bất kỳ ai - kể cả chính người đã từng dẫn đường cho mình.
Nguyễn Tư Nghiêm, hệ màu, hệ hình, hệ nhịp, hệ motif - ngôn ngữ hội họa, tư duy thị giác và triết học thị giác.
▮Trước một bức tranh Nghiêm, người xem thường nhận xét quá nhanh chóng.
Thấy Gióng, liền gọi truyền thuyết dân tộc, xem tranh Kiều thấy Nguyễn Du và văn chương Việt, nhìn Điệu múa cổ nghĩ rằng đó là dân gian, lễ hội, nghi lễ. Còn tranh Con Giáp, lập tức coi là tranh Tết, lịch âm.
Đó là cái bẫy lớn nhất khi đọc Nguyễn Tư Nghiêm, tưởng rằng đã hiểu nghệ thuật của ông vì đã gọi đúng tên những hình tượng truyền thống.
Và điều này cũng không nên ngạc nhiên, bởi chính phần lớn phê bình Việt Nam, từ thập niên 1990s đến nay "đọc" hội họa Nguyễn Tư Nghiêm theo ba hướng quen thuộc, rằng:
“Nghiêm hiện đại hóa dân gian.”
“Nghiêm lấy cảm hứng từ Đông Sơn.”
“Nghiêm vận dụng âm dương ngũ hành.”
Những luận điểm này tuy không sai, nhưng chỉ dừng ở tầng bề mặt, giống như đứng xa nhìn một cỗ máy tinh vi rồi nói nó chạy được.
Thú thật, những nhận định kiểu vậy, thay vì làm rõ vấn đề, thường gây hoang mang nhiều hơn. Nếu không nói là phủ thêm một làn sương mù tạo thêm huyền bí không cần thiết.
Trong khi đáng lẽ ra, tiếp cận đúng hỏi nó "chạy" theo cơ chế nào ? Logic nội tại của nó là gì ?
Tương tự như vậy, câu hỏi dành cho nghệ thuật Nghiêm là tư duy thị giác là gì ? triết học thị giác của ông là gì ?
Có nghĩa là những vấn đề về năng lực hiểu, năng lực tổ chức đường nét, màu sắc, bố cục, chất liệu, không gian. Cũng như cách tổ chức ấy hàm chứa quan niệm gì về tồn tại, ký ức, cái đẹp và con người Việt.
Người ta mô tả Nghiêm bằng cảm tính, trong khi tranh của ông là một hệ cấu trúc. Mọi nét, bảng màu, khối mảng đều vận hành như một hệ thống, không phải một phong cách.
Giống như Wassily Kandinsky đạt được sự thừa nhận như họa sĩ hạng nhất thế giới không chỉ vì ông vẽ trừu tượng giỏi, mà là ông tạo ra ngôn ngữ trừu tượng, hay Pablo Picasso không chỉ phá hình, phá quy tắc truyền thống về phối cảnh mà tạo ra tư duy nghệ thuật khỏi sự mô phỏng thực tế.
Nguyễn Tư Nghiêm cũng vậy.
Ông tạo ra ngữ pháp tạo hình của riêng mình, nếu gọi là một trong đại diện cho ngữ pháp tạo hình Việt cũng không phải là cường điệu quá xa. Hệ tạo hình này không vay mượn phương Tây, không mô phỏng Trung Hoa và quan trọng nhất là không lặp lại dân gian.
Đó là một “ngôn ngữ” hội họa, chứ không phải một phong cách.
Tư duy thị giác của Nghiêm là tư duy thuần Việt, thứ tư duy nằm trong múa cổ, trong mỹ thuật đình làng, trong tranh Hàng Trống, trong sắc màu sơn son thếp, trong các mảng, nét và nhịp của nghệ thuật nghi lễ.
Khi đọc ông bằng lý thuyết phương Tây về bố cục, về đường nét, về hòa sắc, ta thấy ông hiện đại một cách kỳ lạ.
Khi đọc ông bằng ngôn ngữ truyền thống như phong thủy, như biểu tượng học và âm dương ngũ hành, ta lại thấy ông tỉnh táo và không minh họa.
Và khi đem văn hóa Đông Sơn soi chiếu, ta mới thấy điều mà giới nghiên cứu lâu nay đã để lỡ: Nghiêm không hiện đại hóa truyền thống, ông cấu trúc truyền thống thành một ngữ pháp tạo hình độc lập.
Ông không minh họa truyền thống, mà biến truyền thống thành cấu trúc thị giác, một hệ thống có logic, có quy luật tạo hình.
Tôi gọi đó là.
Hệ màu, hệ hình, hệ nhịp, hệ motif Nguyễn Tư Nghiêm.
Một hệ thống có tính triết học, có quy luật nội tại, có logic tương đương với các hệ thống tạo hình lớn của thế kỷ 20.
Nghiêm đã tạo được.
Hệ màu dựa trên nghi lễ và ngũ hành Việt hóa.
Hệ hình với đặc trưng nén, xoắn và phân mảng.
Hệ nhịp cảm hứng từ múa cổ, từ văn hóa Đông Sơn và từ Dịch học
Hệ motif với con giáp, với người múa và biểu tượng thời gian, vũ trụ.
Và đó chính hệ tư duy tạo hình của Nghiêm.
Nghiêm không vẽ theo truyền thống và cũng không hiện đại hóa dân gian. Ông tái kích hoạt một hệ "mã văn hóa" nằm trong các địa tầng thị giác từ văn hóa Đông Sơn, mỹ thuật Phật giáo Lý - Trần, đình chùa Lê - Mạc - Lê Trung Hưng, tranh dân gian Đông Hồ, Hàng Trống, đồ thờ, chạm khắc, gốm, tượng, hoa văn, mặt phẳng ước lệ, màu mảng, biểu tượng cộng đồng và đưa nó vào hình thức hội họa hiện đại.
Một cấu trúc tổng hợp mang tên là "Mỹ học Việt hiện đại của Nguyễn Tư Nghiêm”.
▮Đến đây thì câu hỏi lớn nhất và cũng là lý do tại sao Người Sưu Tập viết tiểu luật này - Nguyễn Tư Nghiêm tạo ra ngôn ngữ tạo hình, tạo ra hệ thống mầu, hình, nhịp và motif đặc biệt Việt bằng cách nào ? Nó thể hiện trên thực tế các tác phẩm ra sao ?
Và những vấn đề sau cũng rất quan trọng:
Trường Mỹ Thuật Đông Dương đóng vai trò gì đối với quá trình thực hành nghệ thuật của Nghiêm hay nói cách khác phải chăng những tiếp thu trường quy về nghệ thuật Phương Tây về phối cảnh, về hình họa, về hòa sắc mâu thuẫn với ngôn ngữ hội họa của Nghiêm ?
Cũng như vì sao Nghiêm không thể đọc bằng tiêu chuẩn Phương Tây, hoặc hiểu Nghiêm không thể bắt đầu từ Paul Cézanne hay hội họa Lập thể Cubism.
Hết dẫn nhập. Còn tiếp với luận điểm chính về nghệ thuật của Nguyễn Tư Nghiêm.
97% lịch sử loài người đã biến mất mãi mãi
Con người đã tồn tại khoảng 300.000 năm. Nhưng chữ viết chỉ mới xuất hiện khoảng 6.000 năm trước. Điều đó đồng nghĩa với việc gần như toàn bộ câu chuyện của nhân loại đã trôi qua mà không hề được ghi lại.
Khoảng 97% lịch sử loài người giờ chỉ còn là khoảng trống.
Chúng ta không biết tổ tiên mình đã nói những ngôn ngữ gì, đã kể cho nhau nghe những câu chuyện ra sao, hay đã nhìn thế giới bằng cách nào. Có thể đã từng tồn tại những nền văn hóa, những niềm tin, những bài hát và cả những con người tài giỏi… nhưng tất cả đều biến mất mà không để lại dấu vết.
Người đầu tiên tạo ra lửa. Người đầu tiên thuần hóa chó sói. Những tình yêu, mất mát, chiến tranh và hy vọng đầu tiên của nhân loại… có lẽ sẽ không bao giờ được biết đến.
Những gì chúng ta còn lại hôm nay chỉ là vài mảnh ghép nhỏ: tranh trong hang động, công cụ bằng đá, hay những ngôi mộ cổ cho thấy con người đã biết yêu thương và tiếc thương nhau từ hàng chục nghìn năm trước.
Điều đáng suy nghĩ là: những con người sống trong “97% bị lãng quên” đó không hề khác chúng ta. Họ cũng biết yêu, biết sợ, biết mơ ước và tò mò về bầu trời phía trên mình.
Chỉ khác một điều: họ sống trong thời đại chưa có ai viết lại câu chuyện của họ.
Có lẽ thứ chúng ta gọi là “lịch sử nhân loại” hôm nay… thật ra chỉ là vài trang cuối còn sót lại của cả một cuốn sách khổng lồ.
Có một điều khá lạ và thú vị về chữ tử tế.
Mỗi khi nhắc đến nó, người ta thường nghĩ ngay đến tốt bụng, biết điều, đối xử đẹp với người khác. Nghĩ như vậy không sai. Nhưng đó chưa phải là nơi chữ này bắt đầu.
Ở gốc nghĩa Hán Việt, tử tế viết bằng chữ Hán là 仔細.
Tử (仔) gợi sự kỹ lưỡng, cẩn thận.
Tế (細) là nhỏ, tỉ mỉ, chú ý đến từng chi tiết nhỏ.
Tử tế, ở nghĩa gốc, không bắt đầu từ lòng tốt. Nó bắt đầu từ sự không qua loa với điều mình làm và với người mình đối diện.
Không làm cho xong.
Không đối đãi hời hợt.
Không làm một việc, nói một câu, cư xử với một người bằng tâm thế đại khái.
Có lẽ vì vậy, khi đi vào tiếng Việt, chữ này mới mở rộng dần thành nghĩa mình quen dùng hôm nay: đàng hoàng, chỉnh tề, không sơ sài, rồi từ đó mới đi tới sắc thái cư xử biết điều, đối đãi đàng hoàng với người khác.
Nói cách khác, trước khi là một phẩm chất đạo đức, tử tế là một cách hiện diện.
Hiện diện cho đàng hoàng. Làm một việc cho tới nơi. Nói một câu có nghĩ tới người nghe. Giữ một thái độ không làm người khác thấy mình bị coi nhẹ.
Nếu ví đời sống như một tấm vải, thì tử tế là đường may không ẩu. Có khi người ngoài không để ý từng mũi chỉ, nhưng chính những mũi chỉ đó giữ cho cả tấm vải không bung ra. Cũng vậy, trong một ngày sống, phần làm người ta thấy nhẹ lòng với nhau nhiều khi không nằm ở điều gì lớn, mà nằm ở những chỗ rất nhỏ: một cách nói vừa phải, một sự cẩn thận không làm ai bị tổn thương, một thái độ không biến sự có lý của mình thành cái cớ để làm người khác nhỏ đi.
Phần lớn tử tế trong đời không nằm ở chuyện lớn. Nó nằm ở việc mình có làm người khác nặng thêm hay không.
Có những người không giúp mình điều gì quá lớn, nhưng ở cạnh họ mình thấy dễ thở. Không phải vì họ giỏi làm mình vui. Mà vì họ không nói ẩu, không cư xử cẩu thả với lòng người, không lấy cái bực của mình trút lên người khác như thể đó là chuyện đương nhiên.
Tử tế không phải là luôn dễ chịu. Không phải là không bao giờ từ chối. Không phải là nhường hết cho xong, chiều chuộng cho êm.
Có những người hay nhượng bộ, hay xuề xòa, hay nói có khi lòng đang muốn nói không, và họ tưởng đó là tử tế. Nhưng thật ra, đó chỉ là tránh xung đột, tránh bị ghét, tránh mất lòng người.
Còn tử tế thật, đôi khi đòi hỏi dũng cảm hơn im lặng.
Họ từ chối, nhưng không làm người khác thấy khó xử thêm. Họ góp ý, nhưng không nhân tiện làm người ta xấu hổ. Họ có thể mệt, có thể không vui, nhưng không coi đó là giấy phép để nói năng sắc lạnh với bất cứ ai đang đi ngang đời mình.
Tử tế, vì thế, không chỉ là tốt. Nó là cẩn trọng với ảnh hưởng mình để lại.
Nhưng có một nửa của chữ này mà người ta thường bỏ quên.
Từ nhỏ, chúng ta hay được dạy là sống tử tế với người khác, phải nhẹ nhàng, biết điều, không làm khó ai, sẵn lòng giúp đỡ. Nhưng ít ai dạy tử tế với chính mình.
Vì nếu tử tế chỉ hướng ra bên ngoài, nó rất dễ trở thành một vai đẹp. Một cách sống khiến ai cũng thấy mình ổn, trừ chính mình. Mà người cho đi từ chỗ trống thì sớm muộn cũng cạn.
Nên có những người rất tử tế với cả thế giới, nhưng lại rất khắt khe với bản thân, nói với mình những câu mà họ không bao giờ nói với người mình thương, đòi hỏi ở mình một mức chịu đựng mà họ sẽ không nỡ đòi hỏi ở ai khác.
Và có lẽ, đây mới là một nửa còn lại rất quan trọng của chữ này: tử tế thật không chỉ là cách mình đối xử với người khác, mà còn là cách mình đối xử với chính mình, ở những lúc yếu nhất, sai nhất, và ít được yêu nhất.
Cũng chính ở đó, người ta bắt đầu nhìn ra khác biệt giữa tử tế thật và tử tế biểu diễn. Tử tế thật vẫn có mặt khi không có ai nhìn, không được ghi nhận, không ai biết mình đã làm gì. Người tử tế vì muốn được khen thì vẫn còn cần một người nhìn thấy. Còn người tử tế dù không ai thấy, đó mới là phẩm chất.
Nó không cần khán giả. Nó chỉ cần một lương tâm biết mình đang sống như thế nào.
Vì sống ở đời, có những điều to lớn, chưa chắc mình làm được ngay. Nhưng một điều rất nhỏ mà ai cũng có thể bắt đầu: bớt làm ẩu với người khác - bớt nói cho xong - bớt cư xử theo kiểu “một câu thôi có gì đâu”, trong khi chính một câu đó có thể ở lại trong lòng người khác rất lâu.
Nghĩ kĩ thì, người tử tế không hẳn là người làm nhiều, mà là người nhìn thấy nhiều.
Còn tử tế, không bắt đầu từ những điều lớn lao. Nó bắt đầu từ sự chú ý với người, với việc, và với cả chính mình - đúng như nghĩa gốc của nó.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)



