Giáo hoàng Francis trong đêm Giáng sinh 24/ 12 ( Ảnh: Facebook )
Nguồn: https://daikynguyenvn.com/the-gioi/giao-hoang-khuyen-con-nguoi-song-don-gian-va-tu-bo-ham-me-vat-chat.html?utm_source=facebook.com&utm_medium=social&utm_campaign=Postcron.com
Nhiều nghiên cứu cho thấy thiền định có mối liên hệ trực tiếp tới lợi ích sức khỏe
Ngày 5/6/1972, tại Stockhom,Thụy Điển, “Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc” (United Nations Environment Programme – UNEP) đã ra đời, đánh dấu sự quan tâm của con người đối với môi trường và phát triển bền vững. Không những thế, các tổ chức thế giới đã không ngừng soạn thảo, áp dụng các định chế mới để đáp ứng yêu cầu của ổn định môi trường: Lần đầu tiên một “Hội nghị Thượng đỉnh Trái Đất” về phát triển bền vững, diễn ra tại Rio de Janeiro từ ngày 3 đến ngày 4 tháng 6 năm 1992, đã đề ra “Công ước Khung của Liên hợp Quốc về Biến đổi khí hậu” (United Nations Framework Convention On Climate Change – UNFCCC) – Đó là một Hiệp ước Quốc tế về Môi trường được đàm phán tại “Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Môi trường và Phát triển”, mà hầu hết các nước thành viên của LHQ thông qua. Từ đó đến nay đã diễn ra thêm hai đợt Rio + 10, năm 2002 tại Johannesburg, Cộng hòa Nam Phi và Rio + 20 vào năm 2012 tại Rio de Janeiro. Từ năm 1995 các bên tham gia Công ước gặp mặt hằng năm tại hội nghị các bên (COP) để trao đổi, đánh giá tiến trình cải thiện, đối phó với biến đổi khí hậu, đặt ra những yêu cầu mới. Đến nay đã diễn ra COP 19 tại Warsaw, Ba lan (tháng11/ 2013).
Tại hội nghị lần thứ 19 này, cũng là lúc cơn bão nhiệt đới Haiyan, chịu ảnh hưởng bởi năng lượng trữ trong các vùng biển ngoài khơi do nhiệt độ tăng, đổ ập vào miền Trung Philippin, với sức gió mạnh hơn 230 km/giờ, làm chết và mất tích khoảng 10 ngàn người, khiến cho những giọt nước mắt ngậm ngùi của Trưởng đoàn Đại biểu Philippin – Yeb Sano – gây xốn xang hội nghị. Trong suốt những ngày hội nghị diễn ra, ông tuyên bố tuyệt thực mong cảm hóa con người, để đạt được những cam kết và thỏa thuận có ý nghĩa nhất.Tại đây, trong bài phát biểu của mình, phỏng theo lời lãnh đạo sinh viên Philippines – Ditto Sarmiento * – ông kêu gọi nhanh chóng cứu vãn sự biến đổi khí hâu: “Nếu không phải chúng ta thì là ai? Nếu không phải bây giờ thì là bao giờ? Nếu không phải ở Warsaw thì ở đâu?”. Với tính cách thẳng thắng, trung thực, ông chia sẻ: “Những gì đất nước tôi đang trải qua, kết quả của hiện tượng thời tiết khắc nghiệt sự kiện, thật điên rồ. Khủng hoảng khí hậu là sự điên rồ.
Chúng ta có thể chấm dứt sự điên rồ ấy. Ngay tại đây, ở Warsaw.
Và bởi vì mặc dù đã có những thành tựu đáng kể từ khi ra đời Công ước khung của LHQ về Biến đổi khí hậu, nhưng 20 năm nay chúng ta vẫn không thực hiện được mục tiêu cao nhất của Công ước.
Khi không hoàn thành được mục tiêu của Công ước, chúng ta có lẽ đã phê chuẩn cho sự diệt vong của những nước dễ bị tổn thương”.
Qủa thật rằng đó là một sự điên rồ! Và hơn thế, phải chăng đó còn là một tội lỗi? Có lẽ nào chúng ta chấp nhận một sự thật trớ trêu như thế! Có lẽ nào, đây là phác thảo cho bản luận tội dành cho tất cả “chúng ta”: “Khi không thực hiện và hoàn thành mục tiêu của Công ước, chúng ta có lẽ đã phê chuẩn cho sự diệt vong của những nước dễ bị tổn thương”!
Ôi, nghiệt ngã làm sao!
Chúng ta có thắt lòng vì nỗi cay nghiệt này!
Chúng ta nhớ lại một sự kiện đặc biệt khác: Tại Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất lần đầu tiên năm1992, Severn Suzuki, một cô bé 12 tuổi ở Vancouver, Canada, đại diện cho nhóm ECO – (Tổ chức Trẻ em vì Môi trường) đã tự quyên tiền vượt qua 8000km đến với đất nước Brazin, nơi diễn ra hội nghị để gửi một thông điệp về nỗi ưu tư của những tấm lòng son trẻ, cho các vị lãnh đạo trên khắp thế giới đang hiện diện bàn về phát triển bền vững.
Bài diễn văn có thể đã làm cho hội nghị lắng nghe và cảm phục. Bởi, với cái tuổi còn ngây thơ, trẻ con ấy, lại đủ dũng cảm, trí tuệ nói lên điều mình nghĩ, như mệnh lệnh của lương tri nhân loại.
Xin trích dẫn một số đoạn trong bài diễn văn của em:
“Tôi chỉ là trẻ con nhưng tôi đã hiểu rằng, chúng ta đều có phần trách nhiệm, và nên cùng hợp tác hành động hướng về mục tiêu chung. Giận dữ không làm tôi mù quáng. Dù sợ hãi, tôi cũng không ngại nói với cả thế giới những gì mình nghĩ”
“Tôi chỉ là trẻ con nhưng tôi đã hiểu rằng, nếu số tiền dùng để cung phụng chiến tranh kia được dùng cho việc tìm kiếm giải pháp cho các vấn đề môi trường, chấm dứt đói nghèo, đi tới các hiệp ước thì trái đất này sẽ tuyệt vời tới nhường nào”
“Ở trường học, ngay từ lớp mẫu giáo, người lớn vẫn dạy chúng tôi cách ứng xử đúng mực. Các vị dạy chúng tôi không được đánh nhau. Phải cố gắng tìm ra các giải pháp. Tôn trọng mọi người. Sửa chữa lỗi lầm mình đã gây ra. Không làm hại các sinh vật khác. Phải biết chia sẻ chứ đừng tham lam… Vậy tại sao các vị lại làm những việc chính các vị dạy chúng tôi không nên làm?”
"Bố tôi thường nói, “Hành động sẽ tạo nên con người, chứ không phải lời nói”. Vâng, nhưng những gì các vị làm khiến tôi khóc hàng đêm. Các vị luôn nói rằng các vị yêu chúng tôi, nhưng tôi xin thách thức các vị hãy hành động đúng như những gì đã nói” [1]
Ôi, chân thành biết bao! Thật thà vô cùng! Quan tâm, yêu thương cuộc đời tận đáy lòng! Nỗi niềm này, đắng cay này, cảm xúc dâng trào kia được thốt ra từ một cô bé chưa đến tuổi trưởng thành:“…Vâng, nhưng những gì các vị làm khiến tôi khóc hàng đêm...” Tôi cho rằng những tiếng kêu rên thiết tha, ngậm ngùi, uất nghẹn ấy làm cho “các vị” và chúng ta - những ai còn chút lương tâm, liêm sỉ sẽ cảm thấy xót xa, hổ thẹn chăng?
Giờ đây, khi cuộc đời bể dâu trôi nổi trên hành trình vô định 22 năm, sau thời khắc lịch sử của thông điệp hùng hồn ấy, trong số những người tham dự hội nghị năm xưa, và cả chúng ta, có bao nhiêu người còn nhớ đến những lời đau xót tận tâm can như thế! Thời gian đằng đẵng, có đủ cho chúng ta thức dậy lương tri con người trên con đường tìm kiếm sự phát triển thịnh vượng và bền vững.
Có chăng sự tỉnh thức từ những nhà quản trị của các quốc gia? Và đâu là một hứa hẹn cho tương lai bền vững, khi những lời thách thức của cô bé năm xưa vẫn còn vang vọng mãi trên các phương tiện truyền thông đại chúng:
“… Các vị luôn nói rằng các vị yêu chúng tôi, nhưng tôi xin thách thức các quí vị hãy hành động như những gì đã nói.”
Thật là trớ trêu, ray rức, đớn đau khi chiêm nghiệm điều này! Vì những gì tồi tệ của đời sống và môi trường, còn nhức nhối, đe dọa, trêu ngươi chúng ta nhan nhản hàng ngày.
Trái đất bị khai thác đến cạn kiệt! Trái đất lâm bệnh, suy tàn!
Những nhà lãnh đạo các quốc gia có đủ can đảm để nhìn thẳng vào thực tại?
Chẳng phải con người đã có “Chiến lược Bảo tồn Thế giới”? (**) Chẳng phải tại Rio de Jenirio, các nhà lãnh đạo đã cùng nhau khẳng định rằng: “The future we want” (Tương lai chúng ta muốn) – Đó là văn bản kết thúc hội nghị Rio + 20 (2012) với khoảng 50 trang, mang tựa đề và nội dung có vẻ như rất quan tâm, đầy trách nhiệm nhưng sau ba ngày, hội nghị kết thúc, thế giới lại hụt hẫng, thất vọng vô cùng. Giới bảo vệ môi trường thì chỉ trích văn bản hội nghị quá yếu kém để thúc đẩy tăng trưởng bền vững, không vạch ra được những mục tiêu cụ thể, để hướng tới một tương lai sáng sủa nào.
Theo giới quan sát và những nhà quan tâm môi trường, Thượng đỉnh Rio +20 đã thất bại, chủ yếu do sự thờ ơ, lơ là thiếu quyết tâm ở cấp chính phủ cũng như nhiều nước phát triển bỏ mặc, phó thác cho sự rủi ro chung này.
“Có những chỉ trích mạnh mẽ đối với dự thảo tuyên bố của Thượng đỉnh Rio+20 như của giám đốc phụ trách chính trị của GreenPeace, ông Daniel Mittler, rằng chúng ta đưa ra một viễn kiến chung về bất động và hủy diệt.
Ông Lasse Gustavsson thuộc WWF thì cho rằng dự thảo của tuyên bố chung thật đáng thất vọng: ngôn từ thì quá nhẹ, kết quả cũng không đi đến đâu, chẳng đạt đến những điều mà con người và hành tinh trái đất cần có.
Chỉ trích cũng được đưa ra khi thành phần tham dự thượng đỉnh Rio+20 thiếu vắng những vị lãnh đạo các nước có vị thế lớn trong cục diện toàn cầu như tổng thống Mỹ, thủ tướng hai nước Anh và Đức.
Tổng thống Bolivia lên tiếng cho rằng ‘kinh tế xanh’ chính là ‘chủ nghĩa thực dân mới’ mà những nước giàu áp lên các quốc gia đang phát triển. Tổng thống Ecuador thì cáo buộc những nước giàu cướp bóc hành tinh trái đất và tiêu thụ tài sản môi trường một cách tự do.” [2]
Dù sao thì cũng ghi nhận có những vị lãnh đạo các quốc gia còn chú ý đến đời sống cộng đồng; nhưng dự thảo của tuyên bố chung thật đáng ngờ, chẳng đi đến một thỏa hiệp chân thành thiết tha và đáng có cho một tương lai thật sự nào.
“The future we want” (Tương lai chúng ta muốn)? Đó là một tương lai vô định và mờ mịt như những gì đã và đang diễn ra; tương lai của những con chữ vô hồn và trò chơi chữ nghĩa.
Hỡi những người quyền uy cao ngất ngưỡng!
...?
Hỡi chúng ta! Chúng ta có suy tư về sự liên đới trách nhiệm của mình ở cuộc đời này? Chúng ta có cảm thông cho đồng loại của mình luôn sống trong lo âu, phập phồng sợ hãi? Chúng ta có tự vấn về đạo đức và bổn phận làm người?
Chúng ta lắng nghe Giáo sư Eiji Hattori, Chủ tịch danh dự của WFUCA (Liên hiệp các Hội UNESCO Thế giới) khẳng định:
“Không xác lập đạo đức toàn cầu, chúng ta không thể tạo dựng nền văn minh tương lai của nhân loại, không thể để lại cho các thế hệ kế tiếp một hành tinh tươi đẹp” .[3]
Vậy nền văn minh tương lai nào cho chúng ta khi hành tinh này đã quá sức chịu đựng của nó, như thực tại hiện ra trước mắt mọi người, và những lời nhận xét đầy lo âu của những nhà khoa học, những vị học giả quan tâm đến đời sống cộng đồng. Tương lai nào cho chúng ta và tương lai nào của phát triển bền vững, khi chúng ta vẫn sống trong trạng thái điên rồ!
Có phải điên rồ không, khi con người vẫn chấp nhận tự tạo ra môi trường không thể kiểm soát được, và Địa Cầu này đã quá sức chịu đựng trước một thảm kịch hủy diệt không thể tồi tệ hơn.
Điều tất yếu và không thể tranh cãi là chúng ta đang sống trong Ngôi Nhà Thế Giới với một Tổ Quốc Chung là Địa Cầu – Trái Đất này. Không nhận thức rõ điều này, loài người chắc chắn sẽ hủy diệt nhau mà thôi!!!
Trở ngại lớn nhất là tinh thần dân tộc mỗi quốc gia trên chặng đường xây dựng chiến lược phát triển của đất nước minh; họ sẵn sàng xả vô tận khí thải co2 độc hại ra môi trường, gây mất an toàn chung cho thế giới, bất chấp sự phản kháng của cộng đồng.
Định chế của thế giới như tăng trưởng kinh tế theo chuẩn “GDP” (Gross Domestic Product) – Tổng sản phẩm nội địa), là một thí dụ điển hình cho quan điểm phát triển, thịnh vượng mơ hồ, mà ngày nay rất nhiều nhà khoa học đã chỉ ra: GDP là một thước đo dễ gây ngộ nhận và lệch lạc khi được dùng để đánh giá thành công của một quốc gia. Các nhà khoa học có thể ước tính được các tác động về mặt môi trường và xã hội, cũng như sự bất bình đẳng về thu nhập, do tăng trưởng GDP. Do đó, đã tới lúc cần tìm cách áp dụng những thước đo khác. Ngày nay, nhiều nước có xu hướng đang loại bỏ chỉ số tăng trưởng GDP, và thay vào chỉ số “GPI” (Chỉ số phát triển đích thực); cũng như đất nước Buhtan đã từng áp dụng chỉ số “GNH” (Gross National Happiness – Tổng Hạnh phúc Quốc gia), đặt ra vào năm 1971. Bhutan là nước duy nhất bảo vệ rừng còn nguyên vẹn. Từ năm 1984 đến 1998, tuổi thọ trung bình của người Bhutan đã tăng thêm 19 năm. Người dân Bhutan hài lòng với cuộc sống của mình. Họ coi tăng trưởng chỉ là công cụ chứ không phải mục tiêu để đạt được.
Gần đây, “Chỉ số Hành tinh Hạnh phúc – HPI” (Happy Planet Indes) do Tổ chức Nghiên cứu Kinh tế – Xã hội phi chính phủ – NEF (New Economic Foundation – Qũy Kinh tế Mới) được đưa ra để xếp hạng cuộc sống hạnh phúc ở các nước, ba năm một lần. Đây là cách đánh giá hạnh phúc độc lập. Chỉ số Hành tinh Hạnh phúc căn cứ trên ba tiêu chí căn bản nhất của đời sống: Tuổi thọ trung bình; mức độ hài lòng cuộc sống và bảo vệ môi trường. Theo chỉ số này, thì năm 2006, “ở Vanuatu – một quốc đảo nằm biệt lập ở giữa Nam Thái Bình Dương có khí hậu tuyệt vời, gồm nhiều bộ tộc sống hòa thuận, ít chấp nhận các phương tiện hiện đại, có ý thức bảo tồn nếp sống địa phương, bộ tộc bản địa còn sống hoang sơ, kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, du lịch, GDP trung bình chỉ 1.300USD được xếp đầu bảng, kế đó là các nước đang phát triển như Colombia, Costarica, Guatemala... trong khi các nước dẫn đầu về kinh tế thế giới như Mỹ, Nhật, Anh, Pháp, Đức… thì ở hạng gần cuối ( 81– 150 ) trên tổng số 178 quốc gia.” [4]
Hạnh phúc là trạng thái cảm xúc của ý niệm, rất được chú ý và quan tâm của loài người, nhưng ngay cả bản chất của hạnh phúc cũng khó có sự thống nhất và đồng tình trong quan niệm chung. Hạnh phúc có phải là cảm giác thích thú, sung sướng và thỏa mãn những điều kiện hay toại nguyện nhất thời nào đó? Có phải hạnh phúc là sự sở hữu nhiều của cải vật chất? Nếu vậy thì rõ ràng hạnh phúc là mục tiêu rất bấp bênh và khó thực hiện, luôn phụ thuộc vào điều kiện khách quan, đôi khi vượt quá tầm kiểm soát, ý chí của bản thân. Cho dù nhiều lúc ta đạt được những điều thỏa mãn này nhưng nó như những khoảnh khắc của khoái cảm, cảm giác nhất thời, thoáng qua bởi ham muốn của con người là vô cùng.Và lịch sử đã chỉ ra rằng, một số quốc gia trong cuộc mưu sinh chiếm đoạt của cải, tài nguyên thiên nhiên, thỏa mãn cho khát vọng giàu có,“hạnh phúc” của dân tộc mình dẫn đến xung đột, chiến tranh trong cạnh tranh sinh tồn…
Những nghiên cứu và dẫn chứng của Gs kinh tế tại Đại học Kinh tế London, Richard Layard đã cho thấy một cách nhìn độc đáo, sáng tỏ về xã hội và cuộc sống của chính con người chúng ta:
“…Dù thu nhập được tăng hơn gấp đôi, người phương Tây vẫn không hạnh phúc hơn cha anh họ năm mươi năm trước…; Một nghiên cứu mới nhất đã phát hiện rằng trong hơn nửa thế kỷ qua, khi các nền kinh tế phát triển hơn trước nhiều thì con người vẫn không có vẻ hạnh phúc hơn.”***
KẾT
Phải chăng “Hiến Chương Trái Đất” [5] đã được những tổ chức có thẩm quyền nhận thức đúng đắn và phổ cập ? Phải chăng “Chiến lựợc "Bảo tồn Thế giới” đã thực thi? Và tương lai nào cho xã hội loài người, và cho phát triển bền vững, khi vẫn còn đó những điều mê muội của con người, trong sự vận hành thế giới với những tư tưởng hủy diệt, lệch lạc, khập khiễn, thiếu nhất quán như hiện nay? Hành tinh suy kiệt, bệnh hoạn, biến dị; khí hậu biến đổi khắc nghiệt; thiên tai, dịch bệnh triền miên...;đạo đức băng hoại và văn hóa suy đồi.
Chúng ta đã có sự thành tựu phong phú và đáng kể về kinh tế trong rất nhiều công trình, sản phẩm phục vụ cho lợi ích của nhân loại. Nhưng đã tới hạn của sự phiêu lưu kinh tế, khi Địa Cầu không còn đảm bảo cho sự tồn tại của mình và tồn tại cho chúng ta để được hưởng những thành quả này.
Đã có rất nhiều nhà khoa học chỉ ra rằng: cần phải có tư duy mới về năng lượng. Thật vậy, một đời sống bền vững, phải trên cơ sở của việc xác định lại nguồn năng lượng xanh và sạch, mới đảm bảo cân bằng sinh thái và ổn định môi trường.
Đã đến lúc chúng ta cần tỉnh thức để thấu hiểu, xác định lại tư duy phát triển. Thận trọng, đắn đo, khi tiếp tục khai thác các nguồn tài nguyên khoáng sản đã cạn kiệt trong thiên nhiên, để chạy theo nền văn minh vật chất.
Tôn trọng, chung sống hòa bình, hài hòa với thiên nhiên. Đó là điều chắc chắn phải tuân phục một cách nhất quán nếu không muốn bị hủy diệt vì sự thờ ơ này!
Và thực tế xã hội loài người đang hiển hiện là một tất yếu đã xảy xa, đang xảy ra…để dẫn đến tình trạng khủng hoảng như hiện nay, cũng là một cơ hội cho chúng ta quán xét lại toàn bộ tri thức, nhận thức và hành vi của mình.
Trở lại câu chuyện của cô bé Serven Suzuki năm xưa...về nỗi ưu tư, yêu thương và đầy trách nhiệm với cộng đồng:“...Vâng, nhưng những gì các vị làm khiến tôi khóc hàng đêm. Các vị luôn nói rằng các vị yêu chúng tôi, nhưng tôi xin thách thức các vị hãy hành động đúng như những gì đã nói”
Ôi! thêm một lần nữa để chúng ta thấm thía, ngẫm ngợi, ray rức, thấu hiểu về mình, thấu hiểu trí tuệ và tư duy phát triển của nhân loại hiện nay.
Cho dù chúng ta có mặc cảm tội lỗi trước lời thách thức năm xưa của Servern Suzuki, thì cũng mong mỗi người thêm một lần thức dậy lương tri để hành động xứng đáng với chức phận Con Người.
Thấu hiểu, thay đổi thực tại để hướng đến tương lai không có phương cách nào bằng Cách mạng xã hội về tình Yêu thương Môi trường.
Cách mạng xã hội chỉ có thể đạt được thành tựu viên mãn nhất, lý tưởng nhất với tâm nguyện Thật Thà, Tử Tế, Bao Dung, Chân Thành và Thiện Lành.
ĐỊA CẦU NÀY SẼ TƯƠI ĐẸP, BỀN VỮNG HƠN; XÃ HỘI LOÀI NGƯỜI CHÚNG TA SẼ RẠNG RỠ HƠN, DIỆU KỲ HƠN KHI MỖI CHÚNG TA DÁM THỰC HIỆN CÁCH MẠNG CÁ NHÂN MÌNH!
Tô Quốc Chung
Tháng 7/ 2014
Chú thích :
| Phê bình
Trần Hoài Anh
|
|
Trong tập thơ Điêu tàn, nhà
thơ Chế Lan Viên đã từng đặt ra một vấn đề mang tính bản thể luận với câu hỏi
chứa đầy tâm thức hiện sinh
Mà phải đâu đã đến ngày tiêu diệt!
Ai bảo giùm: Ta có, có ta không?
Câu hỏi của nhà thơ Chế Lan Viên
ngày ấy mãi mãi là điều tự vấn mà không phải dễ gì tìm thấy câu trả lời trong
cõi nhân gian này. Chính vì thế, không chỉ có Chế Lan Viên, mà còn biết bao
nhà thơ khác đã đặt ra trong thơ mình những câu hỏi có tính triết luận như
một tâm thức hiện sinh về sự hiện hữu của chính mình, trong đó có nhà thơ Cát
Du, một phụ nữ Nam Bộ* vốn không phải là một vùng văn hóa với những con người
mạnh về tư duy tư biện. Vậy mà ở Cát Du, ta lại thấy điều ấy hiện hữu trong
thơ như một giọng điệu riêng.
Ta hãy nghe nhà thơ tự bạch:
Nàng bé tẹo
Tuổi chất cao hơn nàng
Vậy mà
Nàng biết đặt những câu hỏi của nhân loại
Ta từ đâu tới?
Tới để làm gì?
Ta sẽ về đâu?
( Nàng)
Quả thật, cũng như Chế Lan Viên,
những câu hỏi trong thơ Cát Du là những vấn đề mang tính bản thể luận, luôn
tồn tại như ám ảnh của một tâm thức hiện sinh mà tác giả cứ mãi đi tìm như đi
tìm cái Tôi bản thể của mình. Đó là một cái Tôi vừa thực lại
vừa ảo, vừa có lại vừa không, vừa gần gũi lại vừa xa xôi như một thứ ảo giác,
nên khi nhìn vào gương, một chiếc gương cũng được làm bằng ảo giác của mộng
mị vô thường, nhà thơ đã hoài nghi chính sự hiện hữu của mình:
Em đang làm gì?
Soi gương
Soi gương tìm gì?
Tìm em
Em sao?
( Ủa, lạ nào!)
Chính vì vậy, cho dẫu nhà thơ đã hóa thân
thành nhiều cái tôi hiện sinh khác nhau: Có khi giống “nàng Nguyệt Nga mặc
đồ cổ trang và ngồi trên xe ngựa liếc tình với Lục Vân Tiên”. Có khi lại
“thấy mình giống công chức mặc áo cổ cồn và có đeo ve / công chức mặt
nghiêm không hé môi cười”. Có khi lại “thấy mình đang gặt hái trên
cánh đồng lúa / êm ả cò bay”... Nhưng rồi, tất cả những sự hóa thân này
cũng chỉ là hư ảo. Bởi chính em cũng chỉ là ảo ảnh của em, nên những sự hóa
thân này cũng chỉ là sự hóa thân của những ảo ảnh.
Màn nhung khép lại
Thế em đâu rồi?
Không biết
( Ủa!lạ nào!)
Tuy nhiên, chính sự hóa thân này đã tạo nên
bầu khí quyển hiện sinh trong thơ Cát Du. Đó là một thế giới hiện sinh đầy hư
- thực. Thế giới ấy đã đem đến cho người đọc những liên tưởng thú vị, bất ngờ
khi đắm mình trong cõi thơ đầy ma mị của Cát Du, một cõi thơ đầy chất phiêu
bồng vốn là một yếu tính của thơ. Bởi nói như thi sĩ Bùi Giáng “cõi thơ là
cõi bồng phiêu”. Và cõi bồng phiêu trong thơ Cát Du như một ẩn số đầy huyễn
hoặc mà thi nhân cứ mãi đi tìm, như đi tìm bản thể của mình nhưng chẳng bao
giờ có lời giải đáp. Bởi khi “Soi gương chỉ thấy cuộc đời” mà đó chỉ
là “những cuộc đời không em”.
Có thể nói, sự bất lực trong hành trình tìm
kiếm chính mình là một tâm trạng điển hình của tâm thức hiện sinh trong thơ
Cát Du. Câu hỏi tồn tại hay không tồn tại mãi ám ảnh trong suy tư của loài
người dù là phương Đông hay phương Tây. Để rồi, trong hành trình tìm kiếm cái
bản thể ấy, con người có khi lại bắt gặp ảo ảnh của mình, trở thành “kẻ xa
lạ” với chính mình. Và cái điều mâu thuẩn tưởng chừng phi lí ấy lại là một
điều hoàn toàn có lý được biểu hiện sinh động trong tâm thức hiện sinh ở thơ
Cát Du
Em ngắm anh mỗi ngày
Mà sao bỗng lạ?
Những tế bào yêu của ngày hôm qua đã chết
Cuốn đi nụ hôn nồng của em
Đôi môi mới của ngày hôm nay lạnh lùng, thờ ơ
quá thể
Em nhìn thấy người đàn bà hệt em
Trong mắt anh lạ lẫm
Em của ngày qua đâu rồi?
Đâu rồi anh?
Anh của ngày qua đâu rồi?
(Lạ hoắc)
Triết gia Héraclite đã khẳng định: “không ai
có thể tắm hai lần trên cùng dòng sông”. Vì vậy, cũng không có ai sống hai
lần trong một khoảnh khắc của cuộc đời. Mọi việc trong cõi nhân sinh này vẫn
trôi đi lặng lẽ, vẫn cứ tuần hoàn theo quy luật tự nhiên. Và con người không
thể nào thoát khỏi cái qui luật “sinh lão bệnh tử” mà Đức Phật đã chỉ ra. Cái
tâm thức hiện sinh này ta cũng cảm nhận được từ trong thơ của Cát Du.
Người đàn ông nhìn tôi
Cái nhìn lạ hoắc
Cắm vào đêm lạ hoắc
Môi chụm môi lạ hoắc
Cái nồng nàn mới toanh
Lại bắt đầu
(Lạ hoắc)
Để rồi từ sự “bắt đầu”, con người lại hành
trình đến một “kết thúc” trong vòng quay của sự sống và cái chết, của hiện
hữu và hư vô, của hữu hạn và vô hạn của kiếp nhân sinh giữa cõi vô thường. Và
đó cũng là hành trình của tâm thức hiện sinh trong thơ Cát Du.
Sáng nay có người mẹ qua đời
Mặt trời rựng lên rồi tắt
Tôi thấy dòng người như đi về nơi tẩm liệm
Hàng cây bên đường cũng buồn thiu
Gió lặng im
như khóc
Có tiếng nấc chồi non
trong cành gãy
Mẹ ơi!
Mẹ!
( Mẹ ơi !)
Mặt khác, cuộc hành trình của tâm
thức hiện sinh trong thơ Cát Du còn được biểu hiện ở khát vọng nhục cảm tinh
khiết được chưng cất từ sự hiện hữu của hai thực thể CON và NGƯỜI mà Cát Du
không hề lẫn tránh, không cao đạo nhưng cũng không buông tuồng suồng sả trước
những tiếng gọi đầy chất hiện sinh này. Vì thế, những khát vọng nhục cảm
trong thơ Cát Du không rơi vào thế giới của sự tầm thường, không dẫn dụ người
đọc vào những thèm khát bản năng, trái lại nó đưa người đọc vào thế giới của
sự thăng hoa, của những sáng tạo đầy khát vọng hiện sinh
Gương mặt vừa được hôn ngày hôm qua
thức dậy
vẫn còn mơ
Mắt em anh ánh
Môi em nồng nồng
Vòng tay âm ấm
Vẫn còn đâu đây
Thế mà người đã xa khơi
Người mang vòng tay của em đi đâu?
Bỏ mặc em trong cõi người giá lạnh này!
Hãy siết em lần nữa
Siết em lần nữa đi nào
Siết!
(Hãy siết em lần nữa)
Quả thật, tâm thức hiện sinh trong thơ Cát Du
là tiếng gọi thẳm sâu từ cõi vô thức. Đó là một vô thức tiềm ẩn trong ý thức
vô ngôn
Người đàn ông của cỏ
Gặp người đàn bà của cỏ
Xoắn vào nhau
Tung xòe
Quên mất gió đông
(Người đàn ông của cỏ)
Và chính cái tâm thức hiện sinh
này đã trở thành một cảm hứng sáng tạo được thể hiện trong khá nhiều bài thơ
của Cát Du như: Thoát, Mơ, Đen, Nhìn, Va tình, Thắp lửa, Lửa, Trăng lu,
Người đàn bà soi gương, Khiết, Rời khỏi giấc mơ, Rơi… Nó là một phần
không thể thiếu trong thế giới nghệ thuật và tư duy thơ của Cát Du. Nó như
một thứ nhan sắc trong bút pháp thơ của chị để từ đó định hình một phong cách
thơ Cát Du trong dòng chảy của thơ Việt đương đại. Và đây cũng là tiền đề
hình thành cõi thơ Cát Du, cõi thơ của một người phụ nữ mang đầy khát vọng
hiện sinh như một thứ căn cước minh chứng cho sự hiện hữu của mình giữa cuộc
đời. Và đây là một thông điệp đầy tính nhân văn của tâm thức hiện sinh trong
thơ Cát Du.
Có thể nói một điều khá độc đáo
cũng được thể hiện trong tâm thức hiện sinh ở thơ Cát Du đó là sự kết hợp hài
hòa giữa tư tưởng hiện sinh với tư tưởng thiền học qua thế giới nghệ thuật
thơ với những hình tượng thơ đầy hư - thực. Cái cảm thức sắc - không ấy như
một ám ảnh của vô thức và tâm linh đã tạo nên cho thơ Cát Du một giá trị mới
đó là giá trị của sự hợp lưu giữa hai nền triết học Tây - Đông mà ta có thể tìm
thấy trong nhiều bài thơ của Cát Du:
Em ở đâu?
Em ở đâu?
Em ngồi trong hốc mắt
Em ngồi trong hốc mắt làm gì?
Em làm gì?
Em nhìn
Em nhìn gì?
Nhìn em
Em thấy gì?
Chả thấy
Sáng trưng em chả thấy!
Chả thấy!
(Nhìn)
Hay :
Không đánh động gì cả
Chỉ có gió khẽ khàng
Làm
Lá bàng lay, lá bàng lay
Ôi!
Lá vàng sắp rụng
Lá biết
Sự đánh động của gió
Nhẹ nhàng thôi
Nhưng thời gian thở gấp
Lá đi
Lá đi trong chiều
nhẹ tênh
Có gió
Rù rì…
(Rơi)
Và từ trong sự đốn ngộ về tư duy
triết học của chủ nghĩa hiện sinh và thiền học, Cát Du đã nhận ra nỗi đau của
phận người, một nỗi đau luôn đồng hành cùng với sự hiện hữu của con người
trần thế như một tất yếu mà con người không thể phủ nhận.
Là người
Không có nỗi đau sao được
Em không tin đâu!
Không tin
( Cát)
Vì nhận rõ được nỗi đau và sự gới
hạn tất yếu của sự mong manh phận người nên tâm thức hiện sinh trong thơ Cát
Du còn thể hiện ở một thái độ sống tận hiến trong từng sát na của cảm xúc và
đam mê. Và chính xuất phát từ tâm thức hiện sinh này mà sự cảm nhận về tình
yêu trong thơ Cát Du cũng nhuốm màu sắc hiện sinh
Không mùi vị gì cả
Chỉ vòng ôm là thực
Siết chặt là thực
Giãy giụa là thực
…………..
Rơi tõm vào
Cơn cuồng nhiệt
yêu.
(Ám ảnh màu chì)
Có lẽ, vì thế chăng mà thi nhân đã
thú nhận những điều mà người ta cứ mãi che đậy bằng những bài học luân lý đạo
đức đầy giả tạo, tởm lợm đến buồn nôn với những bằng “tiết hạnh khả phong” mà
nhà văn thiên tài Vũ Trọng Phụng đã từng vạch trần và lên án trong tiểu
thuyết Số đỏ nổi tiếng của mình. Điều này đã tạo nên một giá trị riêng
trong thơ Cát Du, giá trị của sự thành thực mang tính NGƯỜI mà không phải ai
cũng dám tự thú!? Phải chăng, đây cũng là tiếng nói từ ý thức về nữ quyền vốn
chưa phải là điều đã được khẳng định trong thơ Việt.
Ta hãy nghe nhà thơ chia sẻ và thú
nhận, một sự thú nhận thật đáng yêu. Bởi vì đó là một sự thú nhận dũng cảm và
thành thật mà nói như Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam: “ Cái khát
vọng cởi trói cho thi ca chỉ là cái khát vọng nói rõ những điều kín nhiệm u
uất, cái khát vọng được thành thực. Một nỗi khát vọng khẩn thiết đến
đau đớn.” (1)
Anh yêu!
Đêm qua có gã trai lạc vào ngôi nhà thiêng của chúng mình
Ngôi nhà em cất giữ tình yêu của anh thật chặt
Vậy mà
Hắn táo tợn
Dám nhìn xoáy vào tình yêu anh bằng cái nhìn
thốc lửa
Làm tình yêu nóng ran
Nồng nàn
Thơm phức
Trời ơi!
Làm sao em cưỡng nổi một cơn giông?
Thôi đành để gió cuốn đi
Cuốn đi.
(Thôi đành để gió cuốn đi)
Thật vậy có thể nói, tâm thức hiện sinh trong
thơ Cát Du không phải là một vấn đề gì mới mẻ và lạ lẫm trong thơ ca hiện đại
Việt Nam. Trước 1975 ta thấy giòng tâm thức hiện sinh ấy đã ngập tràn trong
thơ của Thanh Tâm Tuyền, Nguyên Sa, Vũ Hữu Định, Nguyễn Đức Sơn, Du Tử
Lê, Tô Thùy Yên, Trần Dạ Từ, Cung Trầm Tưởng, Đinh Trầm Ca… với những
câu thơ cũng đầy chất hiện sinh: “ Mười ngón tay sờ soạng giữa hư không /
Đôi mắt đã trũng sâu buồn ảo ảnh” (2) Hay “ Anh sẽ còn chạy mãi dưới
ngàn sao / Tìm ảo ảnh bay trên bờ bụi cát” (3). Và hiện nay cái tâm thức
hiện sinh ấy cũng đang là một dòng chảy trong thơ của các nhà thơ trẻ đương
đại như: Ly Hoàng Ly, Vy Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Nguyệt Phạm, Nguyễn
Hữu Hồng Minh, Lê Thiếu Nhơn, Đồng Chuông Tử, Trần Tuấn, Tuệ Nguyên,
Khánh Phương, Đỗ Doãn Phương…
Sự biểu hiện của tâm thức hiện sinh ở mỗi nhà
thơ không bao giờ giống nhau. Nhưng rõ ràng sự hiện hữu của tâm thức hiện
sinh trong thơ của các nhà thơ hiện đại và đương đại Việt Nam là một thực thể
không thể phủ nhận mà tâm thức hiện sinh trong thơ Cát Du không phải là một
ngoại lệ. Có lẽ đây cũng là một xu hướng cho thấy sự tìm tòi, khám phá trong
hành trình sáng tạo thơ của Cát Du nói riêng và các nhà thơ trẻ Việt Nam nói
chung trong sự nỗ lực để vượt thoát sự sáo mòn công thức và tính đồng phục
của thơ ca hiện đại Việt Nam ở một thời chưa xa cũng như sự cố gắng để khẳng
định cá tính sáng tạo của họ trong nền thơ ca dân tộc.
Vì vậy, dẫu rằng trong thơ Cát Du không phải
không còn những câu thơ chưa đạt đến độ chín của tư duy và chiều sâu của tâm
hồn. Nhưng đó là một tất yếu trong hành trình sáng tạo đầy đau đớn của kiếp
thi nhân. Song điều ấy chỉ là những bóng mờ trong cõi thơ Cát Du, còn phần
sáng trong thơ chị nhìn từ mặt bằng chung của thơ Việt đương đại là đáng ghi nhận.
Và tôi tin rằng, người đọc có thể đồng cảm và
chia sẻ với Cát Du những điều ấy để chỉ còn giữ lại trong tâm cảm của mình ý
vị mặn nồng như một giá trị để chia sẻ với tâm thức hiện sinh trong thơ Cát
Du, một tâm thức hiện sinh được chưng cất từ sự nghiệm sinh của cuộc đời thi
nhân và đã bùng cháy thành ngọn lửa trong thơ và trong lòng người đọc khi đến
với thơ Cát Du.
Hy vọng rằng, từ tâm thức hiện sinh này, Cát
Du sẽ khám phá những chân trời mới trong cõi huyền diệu của thơ ca. Để từ sự
hữu hạn của phận người nhà thơ sẽ đi vào sự vô hạn của nghệ thuật. Bởi nói
như Saint-John Perse “…Thơ đã có từ khi con người ở trong hang đá, thơ vẫn sẽ
có ở thời đại nguyên tử, vì thơ là phần không thể giảm trừ được ở con người”.
Và “thế giới này rốt cuộc chỉ còn lại hai thứ, chỉ hai thứ thôi: Thi ca và
lòng nhân ái… không còn gì khác” Cryian Norwid
Chú thích:
* Cát Du: tên thật Phan Kim Dung sinh và lớn
lên tại tỉnh Bình Dương
(1) Hoài Thanh – Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam,
Nxb. Văn học, 2003, tr.18
(2) Thơ Nguyên Sa, Nxb. Thương Yêu, Sài Gòn,
1975, tr.18
(3) Vọng, Thơ Nguyễn Đức Sơn, Nxb. An Tiêm SG,
1972, tr.6
Gò Vấp, ngày 17/03/2011
|