Giới thiệu về tôi

Thứ Bảy, 28 tháng 11, 2015

Trích ĐẠO ĐỨC KINH: 
Chương 72
Dân chi uý uy tắc đại uy chí. Vô hiệp kì sở cư, vô yếm kì sở sinh. Phù duy bất yếm, thị dĩ bất yếm. Thị dĩ thánh nhân tự tri bất tự hiện, tự ái bất tự quí. Cố khử bỉ thủ thử.
*
Dân mà không sợ sự uy hiếp (tức hà chính, bạo hình) của vua thì sự uy hiếp lớn của dân sẽ đến với vua (tức dân sẽ nổi loạn). Đừng bó buộc đời sống của dân (để cho dân an cư), đừng áp bức cách sinh nhai của dân. Vì không áp bức dân nên dân mới không bức lại vua (không phản kháng).
Vì vậy thánh nhân biết quyền năng của mình mà không biểu lộ ra, yêu cái đức của mình mà không tự cho là tôn quí. Cho nên bỏ cái sau (tự hiện, tự quí) mà giữ cái trước (tự tri, tự ái).

Nguyễn Hiến Lê

Thứ Sáu, 30 tháng 10, 2015


Tranh: Jean Pierre Zimmermann 
Painter Koukei Kojima@ ( Japaniese ) 19

Thứ Hai, 14 tháng 9, 2015

Vì sao nhiều trường học ở Mỹ dạy học sinh thiền định?

Các bạn trẻ của dự án Ride 2 Freedom tĩnh lặng ngồi bên nhau trong lúc nghỉ ngơi. (Ảnh: Ride 2 Freedom/Facebook)
 
Người Mỹ vốn nổi danh là dẫn đầu trong khoa học công nghệ hiện đại nhưng nay cũng đang hào hứng tìm hiểu và thực hành các môn rất cổ xưa như thiền định, yoga… Nhiều trường học đã đưa thiền định vào dạy cho học sinh và họ rất hài lòng về những gì thu được. Vậy điều bí mật ẩn sau những môn truyền thống đó là gì?
Theo thời gian, thiền định cho thấy hiệu quả trong thực tiễn, chứ không phải là một chiêu thức quảng cáo phóng đại. Những người nổi tiếng như Jerry Seinfeld và Goldie Hawn đã công khai thảo luận về việc thực hành thiền định. Thậm chí cả quân đội cũng sử dụng biện pháp này để “cải thiện sức khỏe tinh thần dưới sức ép của căng thẳng và chiến tranh”.

Nhiều nghiên cứu cho thấy thiền định có mối liên hệ trực tiếp tới lợi ích sức khỏe

Một nghiên cứu được công bố trên Tạp chí của Hiệp hội Y khoa Mỹ (JAMA) Internal Medicine chỉ ra rằng, chỉ cần 8 tiếng thiền định mỗi tuần, hiệu quả đem lại sẽ tương đương như thuốc điều trị trầm cảm, lo âu và đau đớn.
Thiền định tốt cho não bộ

Thứ Bảy, 22 tháng 8, 2015

Thứ Năm, 20 tháng 8, 2015

Thứ Bảy, 25 tháng 7, 2015

Cảm xúc đến từ tim hay não?

Khi một người được lắp vào một trái tim mới thì tâm lý anh ta cũng biến đổi khác thường. Tại sao? Câu trả lời sẽ tiết lộ một sự thật bất ngờ về cơ thể chúng ta, David Robson cho biết.

http://www.bbc.com/vietnamese/culture_social
 /2014/12/141214_mind_heart_feelings_vert_fut

Bạn có bao giờ thử cảm nhận trái tim mình?

Thứ Bảy, 4 tháng 7, 2015

Chàng trai 21 tuổi và sáng kiến dọn sạch đại dương trong chỉ 10 năm


 

Thứ Sáu, 26 tháng 6, 2015

Murphy: định luật bánh bơ

Định luật Murphy khẳng định: nếu một điều xấu CÓ THỂ xảy ra, nó SẼ xảy ra, và vào thời điểm tệ nhất có thể!


Nếu người Việt có thành ngữ: “họa vô đơn chí” thì người Mỹ cũng có “Định luật Murphy” (Murphy’s Law) vô cùng thông dụng.
 

Khi chuyên gia tên lửa Edward A. Murphy thất bại trong một thí nghiệm tưởng chừng không thể sai sót chỉ vì một nhầm lẫn cực hy hữu, ông đã phải thốt lên: nếu một điều xấu CÓ THỂ xảy ra, nó SẼ xảy ra! (Anything that can go wrong, will go wrong). Thế là định luật Murphy ra đời và sau vài tháng trở nên cực kỳ nổi tiếng trong ngành kỹ thuật vũ trụ.
 
Định luật Murphy còn được gọi là “định luật bánh bơ”, bởi Edward A. Murphy đã dùng hiện tượng “bánh mì phết bơ” để chứng minh ra nó vào năm 1949. Hãy tưởng tượng, nếu bạn đánh rơi miếng bánh sandwich thơm ngon có trét bơ lên một mặt. Chắc chắn trong đa số lần, miếng bánh của bạn sẽ rơi úp mặt có bơ (mặt ngon nhất) xuống đất.
Việc xấu có xác suất xảy ra cao

Đọc tiếp tại Link sau: http://www.cesti.vn/suoi-nguon-tri-thuc/murphy-dinh-luat-banh-bo.html

Thứ Ba, 23 tháng 6, 2015

Nghiên cứu của Mỹ: Trái đất bước vào “giai đoạn tuyệt chủng mới”

Ảnh minh hoạ. (Nguồn: Pixabay)
 Theo BBC, một nghiên cứu gần đây của ba trường đại học Mỹ đã đưa ra kết luận rằng trái đất đang bước vào một giai đoạn tuyệt chủng mới, và con người là một trong những sinh vật đầu tiên bị diệt vong. 

https://daikynguyenvn.com/khoa-hoc/nghien-cuu-cua-my-trai-dat-buoc-vao-giai-doan-tuyet-chung-moi.html 

Thứ Hai, 22 tháng 6, 2015

Thủ tướng Ấn Độ cùng hàng triệu người tập yoga nhân Ngày quốc tế yoga

Chữ Tâm của nhà báo trong bối cảnh lịch sử hôm nay

Trần Văn Chánh 
Văn Hóa Phật Giáo, số 227 (15.6.2015)

Sau khi kể lể lại một cuộc bể dâu bằng hơn ba ngàn câu thơ lục bát, Nguyễn Du cũng chỉ kết luận cho kiệt tác Truyện Kiều của mình bằng một chữ “Tâm” đơn giản (Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài...). Mà thật, chữ Tâm đơn giản chỉ có nghĩa là “tấm lòng”, hơi khác với hai chữ lương tâm để chỉ ý thức đạo đức nhờ đó mà mỗi người có khả năng tự đánh giá và điều chỉnh hành vi của mình cho hợp với những quy tắc đạo đức có tính phổ biến. Trong số những nhà triết học phương Đông cổ đại, có lẽ Mạnh Tử (372 - 289 TCN) là người bàn đến chữ Tâm nhiều nhất, và theo ông cả bốn đức nhân, nghĩa, lễ, trí đều thuộc về tâm - đó là lòng trắc ẩn, lòng thẹn-ghét, lòng từ nhượng (biết từ chối và nhường nhịn), và lòng biết phân biệt phải trái; có bốn đức ấy rồi kể như có lương tâm, hiểu theo nghĩa gốc là lòng thiện của con người.
Nói về nghề làm báo, viết báo thì chữ Tâm có ý nghĩa rất quan trọng, đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt hướng dẫn hành vi và quyết định của nhà báo để đạt đến chân, thiện, mỹ. Trong trận bút trường văn, nhà báo cũng có một số điểm tương tự như nhà văn về phương diện tác nghiệp (ngòi bút, ngôn ngữ...), nên ngoài phần văn tài họ còn phải có văn tâm (cái tâm của văn), thiếu yếu tố sau này thì văn chương của họ dù hay ho đến đâu cũng không có hồn hướng rõ rệt, nếu không muốn nói vô ích, vì không phục vụ được cho cuộc nhân sinh ngày một thêm tốt đẹp, hài hòa.
Cái tâm của nhà báo mọi thời có thể hiểu bao gồm cả thiện tâm (lòng tốt), nhiệt tâm, công tâm, và nhất là hùng tâm (tâm chí hào hùng mạnh mẽ, muốn làm được những việc hữu ích cho đời), vì nếu thiếu hùng tâm thì nhà báo sẽ trở nên nhút nhát, cầu an, “rụt rè gà phải cáo”, không dám viết hoặc quyết định đăng những bài biết là có ích lợi cho công chúng nhưng lại sợ bị trù dập, thiệt thòi cho mình. Cái tâm của nhà báo cũng gắn liền với một số đức tính thuộc về luân lý chức nghiệp, nhờ đó mới có thái độ khách quan vô tư, can đảm bảo vệ sự thật đến cùng, không khuất phục trước uy vũ hoặc xu phụ cường quyền, hoặc thỏa hiệp và mị dân. Họ luôn yêu chuộng công bằng, dám chấp nhận lao tâm khổ trí và hi sinh, tránh được những điều trái ngược với đạo đức báo chí như khai thác những chuyện giựt gân để câu khách, phạm tội phỉ báng, mượn lý do “nghiên cứu-trao đổi”, “phản biện” dùng tư tưởng bảo thủ-giáo điều và lời lẽ xấc láo thiếu văn hóa phê bình theo kiểu vùi dập, chụp mũ chính trị đối với những người có “ý kiến khác”, hoặc xâm phạm đời tư của công dân, viết lăng nhăng tục tĩu, nói láo ăn tiền...
Cái tâm của nhà báo giúp cho họ luôn giữ được sự thăng bằng đúng mực, tôn trọng và bảo vệ con người, không vì bất cứ lý do gì mà có thể công bố những lời tố cáo không chính thức ảnh hưởng đến uy tín, đạo đức hoặc xâm phạm vào tâm tư, quyền lợi riêng của cá nhân mà không minh chứng được sở dĩ như vậy là vì lợi ích của công chúng, chứ không phải vì tính tò mò của công chúng. “Một tờ báo không thể tránh khỏi bị kết tội là thiếu trung thực nếu một khi nó bày tỏ mục tiêu đạo đức cao cả mà lại có khuyến khích đối với các hành vi thấp hèn, như có thể thấy trong việc miêu tả chi tiết các tội ác và thói trụy lạc” (“Những nguyên tắc của nghề báo”, trong quyển Bước vào nghề báo, NXB. Trẻ, 2003, tr. 359). Một nhà báo có lòng do vậy luôn cân nhắc, nghĩ tới hậu quả của những việc mình làm, như lời nhắc nhở sau đây của hai nhà báo lão luyện - Leonard Ray Teel và Ron Taylor, tác giả của quyển sách vừa dẫn : “Ngay cả bọn trộm cướp cũng có gia đình. Cố gắng đặt bạn vào vị trí của những người bạn viết đến. Hãy nhớ rằng bạn có thể đang hủy hoại một đời người, khiến cho người ta vào tù, hoặc làm cho người ta thành kho gây cười cho những người ngang hàng”. Một lời khuyên thật nhân đạo cho những người làm báo.

Chắc có người còn nhớ câu chuyện xảy ra hơn 20 năm trước, hồi tháng 5.1993, giới báo chí Pháp và cả dư luận thế giới đã bị xúc động mạnh về cái chết của Bérégovoy (1925-1993), cựu thủ tướng Pháp. Ông đã tự tử vì tờ Le Canard Enchainé (Con vịt xiềng) tố cáo ông đã mượn số tiền 1 triệu francs không trả lãi của một người bạn để mua nhà trong thời kỳ ông còn là dân biểu ở tỉnh Nièvre. Ông Bérégovoy là một người chính trực, xuất thân bình dân nên việc ông chọn cái chết trong trường hợp nêu trên đã gây nhiều xúc động khiến người ta phải đặt kỹ lại vấn đề lương tâm và trách nhiệm của báo chí, cách thức của báo chí trong việc đưa tin và phê bình chỉ trích khi đụng đến trường hợp của một số cá nhân riêng biệt. Mọi sự chỉ trích cay độc bất chấp sự nghiên cứu sâu xa về con người hiểu như một sinh vật phức tạp tế nhị, một sản phẩm tổng hòa tích hợp từ hàng trăm mối quan hệ hình thành nhân cách, có lẽ không phải là cách chọn lựa của một nhà báo chân chính, vì bất cứ lý do nào.
Ở Việt Nam, vào năm 1990, cũng có một vụ đau lòng làm nhức nhối lương tri xã hội, tương tự câu chuyện về ông Bérégovoy nhưng tình tiết hơi khác, do sự thiếu tế nhị (nếu không muốn nói thiếu lương tâm và vi phạm đạo đức nghề nghiệp) của nghề báo gây ra. Đó là vụ án bia ôm Đường Sơn Quán (Thủ Đức) dính đến người cha là sĩ quan công an bị đưa hình lên báo, khiến đứa con gái 16 tuổi phải uống thuốc độc tự tử vì không chịu nổi tình cảnh nhục nhã khi nghe bạn bè trong lớp đàm tiếu về người cha mà em vốn cho là lý tưởng của mình, còn người vợ của viên sĩ quan đó thì cũng dở điên dở khùng vì xấu hổ…
Xét về phương diện cái tâm thì tài năng, sự thăng tiến nghề nghiệp và tiền bạc kiếm được cũng chưa phải là những tiêu chuẩn chính để đánh giá một nhà báo. Cũng không phải luôn luôn ạch đụi, nghèo rớt mồng tơi mới là nhà báo tốt, nhưng đôi khi danh lợi, tham vọng thăng tiến nóng vội và thái độ bất chấp thủ đoạn trong nghề lại đồng nghĩa với tội ác, thậm chí tội sát nhân. Năm 1934, một tấn thảm kịch cũng đã xảy ra trong chính giới Pháp mà kẻ chủ động là Carbuccia, chủ nhiệm tuần báo Gringoire với sự cộng tác, câu kết đắc lực của nhà báo Henri Béraud. Anh này vì ham tiền của chủ và muốn mau được nổi tiếng nên đã nhẫn tâm đặt điều vu cáo, vu khống Salengro là một tên lính đào ngũ. Salengro là một chiến sĩ xã hội lúc đó đang giữ chức bộ trưởng Bộ Nội vụ cho chính phủ Léon Blum, đã chọn cái chết để thanh minh cho mình. Sau đó người ta được biết ông chủ nhiệm của Béraud chính là con rể của Jean Chiappe, Đô trưởng cảnh sát Ba Lê vốn là kẻ thù nghịch với nhà cách mạng xã hội Salengro. Thì ra ông chủ nhiệm muốn làm vừa lòng cha vợ, còn anh nhà báo thì vì số tiền thưởng kếch xù đã nhẫn tâm chửi mướn ăn tiền gây ra cái chết cho một nhân vật lỗi lạc của nước Pháp. Béraud sau việc làm này quả nhiên tiếng tăm nổi như cồn, nhưng một hôm anh ta nhận được bức thư với tuồng chữ quen quen của hai bạn đồng nghiệp là Pierre Scize và Louis Roubaud, trước đó bốn năm ở tỉnh Lyon là bạn học của Béraud lúc hàn vi và cả ba đã từng hẹn nhau bước vào nghề báo trong tinh thần thi đua xem ai đến đích trước. Nội dung của bức thư chỉ có mấy dòng ngắn ngủi: “Mày đúng là đứa đã đến trước nhất, nhưng không phải là nơi chúng tao mong chờ ở mày. Vĩnh biệt”. Câu chuyện này nhà báo lão thành Trần Tấn Quốc (1914 - 1987) đã có lần kể lại cho các sinh viên nghe trong một buổi nói chuyện để nhắc nhở các bạn trẻ nuôi mộng làm báo về cái tâm của một nhà báo chân chính, có ghi lại đầy đủ hơn trong quyển Trần Tấn Quốc, bốn mươi năm làm báo (của tác giả Thiện Mộc Lan, NXB Trẻ, 2000).
Nói về cái Tâm của nhà báo nhân Ngày Nhà báo Việt Nam 21.6, mà nội dung phong phú hơn nhiều liên quan đến cả vận nước và tương lai dân tộc chứ không chỉ có lòng trắc ẩn đối với một vài cá nhân, đặc biệt trong bối cảnh lịch sử hôm nay, chúng tôi xin trích lại mấy lời tâm huyết sau đây của một nhà báo lão thành đã quá cố:
“... Những ai muốn bước vào nghề báo, có lẽ từ lúc vỡ lòng cho tới khi buông bút, không nên nghĩ đây là một cái nghề để cầu danh, cầu lợi, mà là phương tiện để ‘hành đạo’... Những nhà báo có uy tín thường là những người không bao giờ rời sự thật (sự thật nguyên nghĩa khoa học của nó). Họ phải trần ai lai khổ, thậm chí phải ‘bỏ mạng’ để tìm đến với sự thật và bảo vệ nó. Sự thật là hạt nhân làm nổ những trái bom thông tin nhằm giải phóng các xã hội ra khỏi sự kiềm tỏa hữu hình và vô hình, đưa con người và xã hội tiếp cận với chân lý, thức tỉnh thường trực trách nhiệm của giới hữu trách, của mỗi công dân và cộng đồng, vun đắp nhân bản, nuôi dưỡng cái thiện, chống cái ác, cái xấu, cái gian dối... Người cầm bút vượt qua bao cửa ải của quyền lực cá nhân, để tôn vinh quyền lực của cộng đồng, và để không dễ dàng bị biến thành ‘bồi bút’... Những ai quay lưng trước sự thật xin chớ bước vào nghề báo”.
Đoạn vừa trích dẫn là lời bạt của nhà báo Bến Nghé (còn có bút danh Khả Minh) đặt ở cuối cuốn sách Bước vào nghề báo đã dẫn trên, trong đó tác giả lặp đi lặp lại nhiều lần hai chữ “sự thật”, coi việc tôn trọng sự thật và nỗ lực tìm kiếm sự thật của người viết báo, làm báo như là một trong những thuộc tính căn bản nhất của nghề nghiệp. Thiếu thuộc tính này thì nghề báo sẽ không thể phân biệt được với những nghề nghiệp khác, do vậy nó cũng không thực hiện được chức năng, vai trò mà đáng lẽ nó phải có như xã hội đã phân công cho nó. Song hai chữ “sự thật” đối với người viết báo, làm báo tự thân nó cũng mang nhiều ý nghĩa phong phú, phức tạp, rất tùy thuộc vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể mà các chủ thể của nghề nghiệp đang sống và làm việc. Có những sự thật thuộc thông tin đơn thuần đương nhiên cần được phản ảnh đúng, không thể làm khác, nhưng cũng có những sự thật thuộc phạm vi xử lý và bình luận các thông tin, đòi hỏi sự phân tích ở chiều sâu hơn nhằm gợi ý giúp cho độc giả thấy được tầng sâu bản chất của sự vật, cũng như nguyên nhân gốc rễ của mọi hiện tượng tiêu cực làm cho xã hội băng hoại và đẩy dân chúng vào cảnh lao đao lận đận trong vòng tăm tối không lối thoát. Điều này đòi hỏi các nhà báo vừa phải trung thực, vừa có những cách biểu hiện đầy nghệ thuật và khôn khéo. Nếu hoàn cảnh ít thuận lợi hơn, chẳng hạn như phải hoạt động trong điều kiện một chính quyền nào đó không biết tôn trọng dân chủ, hoặc chỉ tôn trọng dân chủ một cách giả hiệu, mị dân, thì ngoài tính trung thực, các nhà báo còn phải có lòng can đảm nữa. Xét cho cùng, cả hai đức tính này đối với nhà báo (tính trung thực và lòng can đảm) cũng chỉ là một, hoặc chúng có quan hệ biện chứng với nhau, không thể tách rời nhau.
Nhà báo vì thế không chỉ yêu sự thật mà còn phải ra sức bảo vệ sự thật nữa. Họ không chỉ cần sự tinh thông nghề nghiệp với lương tâm trong sáng mà còn dám mạnh dạn đề xuất sáng kiến, đặt ra những vấn đề bức xúc xã hội cần giải quyết, góp phần thúc đẩy sự tiến bộ, chứ không nên chỉ thụ động chờ đợi cho đến khi có cấp thẩm quyền nào đó “bật đèn xanh” rồi cứ thế tìm cách “té nước theo mưa” cho an toàn bản thân. Đây vừa là trách nhiệm vừa là lương tâm của người cầm bút, thể hiện một cách cụ thể trong quá trình viết lách, biên tập và quyết định bài vở, trên cơ sở coi lợi ích của nhân dân là luật pháp tối thượng mà không hề khuất phục bất kỳ một thế lực nào.
Nếu tính trung thực luôn gắn liền với lòng can đảm thì lương tâm và trách nhiệm cũng thế, không thể tách rời nhau được. Cũng trong lời bạt của quyển sách nghề báo nêu trên, chúng ta còn đọc thấy lời của nhà báo-nhà văn-nhà sử học Pháp lão thành Jean Lacouture (sinh năm 1921) được trích dẫn, lấy từ bản tiếng Việt của tạp chí Người đưa tin UNESCO (tháng 9.1990, tr. 13) : “Nhà báo là một sinh vật có một lương tâm mà không một ông trùm báo chí nào, không một hệ tư tưởng thống trị nào, không một sự đồng lõa với phe đảng nào khuất phục được hoàn toàn”.
Nguồn: Văn Hóa Phật Giáo, số 227 (15.6.2015)

Thứ Năm, 7 tháng 5, 2015

PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG – NỖI NIỀM SUY TƯ CỦA YEB SANO, SEVERN SUZUKI VÀ CHÚNG TA

Ngày 5/6/1972, tại Stockhom,Thụy Điển,  “Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc”  (United Nations Environment Programme – UNEP) đã ra đời, đánh dấu sự quan tâm của con người đối với môi trường và phát triển bền vững. Không những thế, các tổ chức thế giới đã không ngừng soạn thảo, áp dụng các định chế mới để đáp ứng yêu cầu của ổn định môi trường: Lần đầu tiên một “Hội nghị Thượng đỉnh Trái Đất” về phát triển bền vững, diễn ra tại Rio de Janeiro từ ngày 3 đến ngày 4 tháng 6 năm 1992, đã đề ra “Công ước Khung của Liên hợp Quốc về Biến đổi khí hậu” (United Nations Framework Convention On Climate Change  – UNFCCC) – Đó là một Hiệp ước Quốc tế về Môi trường được đàm phán tại “Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Môi trường và Phát triển”, mà hầu hết các nước thành viên của LHQ thông qua. Từ đó đến nay đã diễn ra thêm hai đợt Rio + 10, năm 2002 tại Johannesburg, Cộng hòa Nam Phi và Rio + 20 vào năm 2012 tại Rio de Janeiro. Từ năm 1995 các bên tham gia Công ước gặp mặt hằng năm tại hội nghị các bên (COP) để trao đổi, đánh giá tiến trình cải thiện, đối phó với biến đổi khí hậu, đặt ra những yêu cầu mới. Đến nay đã diễn ra COP 19 tại Warsaw, Ba lan (tháng11/ 2013).

Tại hội nghị lần thứ 19 này, cũng là lúc cơn bão nhiệt đới Haiyan, chịu ảnh hưởng bởi năng lượng trữ trong các vùng biển ngoài khơi do nhiệt độ tăng, đổ ập vào miền Trung Philippin, với sức gió mạnh hơn 230 km/giờ, làm chết và mất tích khoảng 10 ngàn người, khiến cho những giọt nước mắt ngậm ngùi của Trưởng đoàn Đại biểu Philippin  – Yeb Sano – gây xốn xang hội nghị. Trong suốt những ngày hội nghị diễn ra, ông tuyên bố tuyệt thực mong cảm hóa con người, để đạt được những cam kết và thỏa thuận có ý nghĩa nhất.Tại đây, trong bài phát biểu của mình, phỏng theo lời lãnh đạo sinh viên Philippines – Ditto Sarmiento *  – ông kêu gọi nhanh chóng cứu vãn sự biến đổi khí hâu: “Nếu không phải chúng ta thì là ai? Nếu không phải bây giờ thì là bao giờ? Nếu không phải ở Warsaw thì ở đâu?”. Với tính cách thẳng thắng, trung thực, ông chia sẻ: “Những gì đất nước tôi đang trải qua, kết quả của hiện tượng thời tiết khắc nghiệt sự kiện, thật điên rồ. Khủng hoảng khí hậu là sự điên rồ.

Chúng ta có thể chấm dứt sự điên rồ ấy. Ngay tại đây, ở Warsaw.

Và bởi vì mặc dù đã có những thành tựu đáng kể từ khi ra đời Công ước khung của LHQ về Biến đổi khí hậu, nhưng 20 năm nay chúng ta vẫn không thực hiện được mục tiêu cao nhất của Công ước.

Khi không hoàn thành được mục tiêu của Công ước, chúng ta có lẽ đã phê chuẩn cho sự diệt vong của những nước dễ bị tổn thương”.

Qủa thật rằng đó là một sự điên rồ! Và hơn thế, phải chăng đó còn là một tội lỗi? Có lẽ nào chúng ta chấp nhận một sự thật trớ trêu như thế! Có lẽ nào, đây là phác thảo cho bản luận tội dành cho tất cả “chúng ta”: “Khi không thực hiện và hoàn thành mục tiêu của Công ước, chúng ta có lẽ đã phê chuẩn cho sự diệt vong của những nước dễ bị tổn thương”!

Ôi, nghiệt ngã làm sao!

Chúng ta có thắt lòng vì nỗi cay nghiệt này!

Chúng ta nhớ lại một sự kiện đặc biệt khác: Tại Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất lần đầu tiên năm1992, Severn Suzuki, một cô bé 12 tuổi ở Vancouver, Canada, đại diện cho nhóm ECO – (Tổ chức Trẻ em vì Môi trường) đã tự quyên tiền vượt qua 8000km đến với đất nước Brazin, nơi diễn ra hội nghị để gửi một thông điệp về nỗi ưu tư của những tấm lòng son trẻ, cho các vị lãnh đạo trên khắp thế giới đang hiện diện bàn về phát triển bền vững.

Bài diễn văn có thể đã làm cho hội nghị lắng nghe và cảm phục. Bởi, với cái tuổi còn ngây thơ, trẻ con ấy, lại đủ dũng cảm, trí tuệ nói lên điều mình nghĩ, như mệnh lệnh của lương tri nhân loại.

Xin trích dẫn một số đoạn trong bài diễn văn của em:

“Tôi chỉ là trẻ con nhưng tôi đã hiểu rằng, chúng ta đều có phần trách nhiệm, và nên cùng hợp tác hành động hướng về mục tiêu chung. Giận dữ không làm tôi mù quáng. Dù sợ hãi, tôi cũng không ngại nói với cả thế giới những gì mình nghĩ”

“Tôi chỉ là trẻ con nhưng tôi đã hiểu rằng, nếu số tiền dùng để cung phụng chiến tranh kia được dùng cho việc tìm kiếm giải pháp cho các vấn đề môi trường, chấm dứt đói nghèo, đi tới các hiệp ước thì trái đất này sẽ tuyệt vời tới nhường nào”

“Ở trường học, ngay từ lớp mẫu giáo, người lớn vẫn dạy chúng tôi cách ứng xử đúng mực. Các vị dạy chúng tôi không được đánh nhau. Phải cố gắng tìm ra các giải pháp. Tôn trọng mọi người. Sửa chữa lỗi lầm mình đã gây ra. Không làm hại các sinh vật khác. Phải biết chia sẻ chứ đừng tham lam… Vậy tại sao các vị lại làm những việc chính các vị dạy chúng tôi không nên làm?”

"Bố tôi thường nói, “Hành động sẽ tạo nên con người, chứ không phải lời nói”. Vâng, nhưng những gì các vị làm khiến tôi khóc hàng đêm. Các vị luôn nói rằng các vị yêu chúng tôi, nhưng tôi xin thách thức các vị hãy hành động đúng như những gì đã nói” [1]

Ôi, chân thành biết bao! Thật thà vô cùng! Quan tâm, yêu thương cuộc đời tận đáy lòng! Nỗi niềm này, đắng cay này, cảm xúc dâng trào kia được thốt ra từ một cô bé chưa đến tuổi trưởng thành:“…Vâng, nhưng những gì các vị làm khiến tôi khóc hàng đêm...”  Tôi cho rằng những tiếng kêu rên thiết tha, ngậm ngùi, uất nghẹn ấy làm cho các vị và chúng ta - những ai còn chút lương tâm, liêm sỉ sẽ cảm thấy xót xa, hổ thẹn chăng?

Giờ đây, khi cuộc đời bể dâu trôi nổi trên hành trình vô định 22 năm, sau thời khắc lịch sử của thông điệp hùng hồn ấy, trong số những người tham dự hội nghị năm xưa, và cả chúng ta, có bao nhiêu người còn nhớ đến những lời đau xót tận tâm can như thế! Thời gian đằng đẵng, có đủ cho chúng ta thức dậy lương tri con người trên con đường tìm kiếm sự phát triển thịnh vượng và bền vững.

Có chăng sự tỉnh thức từ những nhà quản trị của các quốc gia? Và đâu là một hứa hẹn cho tương lai bền vững, khi những lời thách thức của cô bé năm xưa vẫn còn vang vọng mãi trên các phương tiện truyền thông đại chúng: 

“… Các vị luôn nói rằng các vị yêu chúng tôi, nhưng tôi xin thách thức các quí vị hãy hành động như những gì đã nói.”

Thật là trớ trêu, ray rức, đớn đau khi chiêm nghiệm điều này! Vì những gì tồi tệ của đời sống và môi trường, còn nhức nhối, đe dọa, trêu ngươi chúng ta nhan nhản hàng ngày.

Trái đất bị khai thác đến cạn kiệt! Trái đất lâm bệnh, suy tàn! 

Những nhà lãnh đạo các quốc gia có đủ can đảm để nhìn thẳng vào thực tại?

Chẳng phải con người đã có “Chiến lược Bảo tồn Thế giới”? (**)  Chẳng phải tại Rio de Jenirio, các nhà lãnh đạo đã cùng nhau khẳng định rằng: “The future we want” (Tương lai chúng ta muốn) – Đó là văn bản kết thúc hội nghị Rio + 20 (2012) với khoảng 50 trang, mang tựa đề và nội dung có vẻ như rất quan tâm, đầy trách nhiệm nhưng sau ba ngày, hội nghị kết thúc, thế giới lại hụt hẫng,  thất vọng vô cùng. Giới bảo vệ môi trường thì chỉ trích văn bản hội nghị quá yếu kém để thúc đẩy tăng trưởng bền vững, không vạch ra được những mục tiêu cụ thể, để hướng tới một tương lai sáng sủa nào.

Theo giới quan sát và những nhà quan tâm môi trường, Thượng đỉnh Rio +20 đã thất bại, chủ yếu do sự thờ ơ, lơ là thiếu quyết tâm ở cấp chính phủ cũng như nhiều nước phát triển bỏ mặc, phó thác cho sự rủi ro chung này.

“Có những chỉ trích mạnh mẽ đối với dự thảo tuyên bố của Thượng đỉnh Rio+20 như của giám đốc phụ trách chính trị của GreenPeace, ông Daniel Mittler, rằng chúng ta đưa ra một viễn kiến chung về bất động và hủy diệt.

Ông Lasse Gustavsson thuộc WWF thì cho rằng dự thảo của tuyên bố chung thật đáng thất vọng: ngôn từ thì quá nhẹ, kết quả cũng không đi đến đâu, chẳng đạt đến những điều mà con người và hành tinh trái đất cần có.

Chỉ trích cũng được đưa ra khi thành phần tham dự thượng đỉnh Rio+20 thiếu vắng những vị lãnh đạo các nước có vị thế lớn trong cục diện toàn cầu như tổng thống Mỹ, thủ tướng hai nước Anh và Đức.

Tổng thống Bolivia lên tiếng cho rằng ‘kinh tế xanh’ chính là ‘chủ nghĩa thực dân mới’ mà những nước giàu áp lên các quốc gia đang phát triển. Tổng thống Ecuador thì cáo buộc những nước giàu cướp bóc hành tinh trái đất và tiêu thụ tài sản môi trường một cách tự do.” [2]

Dù sao thì cũng ghi nhận có những vị lãnh đạo các quốc gia còn chú ý đến đời sống cộng đồng; nhưng dự thảo của tuyên bố chung thật đáng ngờ, chẳng đi đến một thỏa hiệp chân thành thiết tha và đáng có cho một tương lai thật sự nào.

“The future we want (Tương lai chúng ta muốn)? Đó là một tương lai vô định và mờ mịt như những gì đã và đang diễn ra; tương lai của những con chữ vô hồn và trò chơi chữ nghĩa.

Hỡi những người quyền uy cao ngất ngưỡng!

...? 

Hỡi chúng ta! Chúng ta có suy tư về sự liên đới trách nhiệm của mình ở cuộc đời này? Chúng ta có cảm thông cho đồng loại của mình luôn sống trong lo âu, phập phồng sợ hãi? Chúng ta có tự vấn về đạo đức và bổn phận làm người?

Chúng ta lắng nghe Giáo sư Eiji Hattori, Chủ tịch danh dự của WFUCA (Liên hiệp các Hội UNESCO Thế giới) khẳng định:

“Không xác lập đạo đức toàn cầu, chúng ta không thể tạo dựng nền văn minh tương lai của nhân loại, không thể để lại cho các thế hệ kế tiếp một hành tinh tươi đẹp” .[3]

Vậy nền văn minh tương lai nào cho chúng ta khi hành tinh này đã quá sức chịu đựng của nó, như thực tại hiện ra trước mắt mọi người, và những lời nhận xét đầy lo âu của những nhà khoa học, những vị học giả quan tâm đến đời sống cộng đồng. Tương lai nào cho chúng ta và tương lai nào của phát triển bền vững, khi chúng ta vẫn sống trong trạng thái điên rồ!

Có phải điên rồ không, khi con người vẫn chấp nhận tự tạo ra môi trường không thể kiểm soát được, và Địa Cầu này đã quá sức chịu đựng trước một thảm kịch hủy diệt không thể tồi tệ hơn.

Điều tất yếu và không thể tranh cãi là chúng ta đang sống trong Ngôi Nhà Thế Giới với một Tổ Quốc Chung là Địa Cầu – Trái Đất này. Không nhận thức rõ điều này, loài người chắc chắn sẽ hủy diệt nhau mà thôi!!!

Trở ngại lớn nhất là tinh thần dân tộc mỗi quốc gia trên chặng đường xây dựng chiến lược phát triển của đất nước minh; họ sẵn sàng xả vô tận khí thải co2 độc hại ra môi trường, gây mất an toàn chung cho thế giới, bất chấp sự phản kháng của cộng đồng.

Định chế của thế giới như tăng trưởng kinh tế theo chuẩn “GDP” (Gross Domestic Product) – Tổng sản phẩm nội địa), là một thí dụ điển hình cho quan điểm phát triển, thịnh vượng mơ hồ, mà ngày nay rất nhiều nhà khoa học đã chỉ ra: GDP là một thước đo dễ gây ngộ nhận và lệch lạc khi được dùng để đánh giá thành công của một quốc gia. Các nhà khoa học có thể ước tính được các tác động về mặt môi trường và xã hội, cũng như sự bất bình đẳng về thu nhập, do tăng trưởng GDP. Do đó, đã tới lúc cần tìm cách áp dụng những thước đo khác. Ngày nay, nhiều nước có xu hướng đang loại bỏ chỉ số tăng trưởng GDP, và thay vào chỉ số  “GPI” (Chỉ số phát triển đích thực); cũng như đất nước Buhtan đã từng áp dụng chỉ số “GNH” (Gross National Happiness – Tổng Hạnh phúc Quốc gia), đặt ra vào năm 1971. Bhutan là nước duy nhất bảo vệ rừng còn nguyên vẹn. Từ năm 1984 đến 1998, tuổi thọ trung bình của người Bhutan đã tăng thêm 19 năm. Người dân Bhutan hài lòng với cuộc sống của mình. Họ coi tăng trưởng chỉ là công cụ chứ không phải mục tiêu để đạt được. 

Gần đây, “Chỉ số Hành tinh Hạnh phúc – HPI” (Happy Planet Indes) do Tổ chức Nghiên cứu Kinh tế – Xã hội phi chính phủ – NEF (New Economic Foundation – Qũy Kinh tế Mới) được đưa ra để xếp hạng cuộc sống hạnh phúc ở các nước, ba năm một lần. Đây là cách đánh giá hạnh phúc độc lập. Chỉ số Hành tinh Hạnh phúc căn cứ trên ba tiêu chí căn bản nhất của đời sống: Tuổi thọ trung bình; mức độ hài lòng cuộc sống và bảo vệ môi trường. Theo chỉ số này, thì năm 2006,  “ở Vanuatu – một quốc đảo nằm biệt lập ở giữa Nam Thái Bình Dương có khí hậu tuyệt vời, gồm nhiều bộ tộc sống hòa thuận, ít chấp nhận các phương tiện hiện đại, có ý thức bảo tồn nếp sống địa phương, bộ tộc bản địa còn sống hoang sơ, kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, du lịch, GDP trung bình chỉ 1.300USD được xếp đầu bảng, kế đó là các nước đang phát triển như Colombia, Costarica, Guatemala... trong khi các nước dẫn đầu về kinh tế thế giới như Mỹ, Nhật,  Anh, Pháp, Đức… thì  ở hạng gần cuối ( 81– 150 ) trên tổng số 178 quốc gia.” [4]

Hạnh phúc là trạng thái cảm xúc của ý niệm, rất được chú ý và quan tâm của loài người, nhưng ngay cả bản chất của hạnh phúc cũng khó có sự thống nhất và đồng tình trong quan niệm chung. Hạnh phúc có phải là cảm giác thích thú, sung sướng và thỏa mãn những điều kiện hay toại nguyện nhất thời nào đó? Có phải hạnh phúc là sự sở hữu nhiều của cải vật chất? Nếu vậy thì rõ ràng hạnh phúc là mục tiêu rất bấp bênh và khó thực hiện, luôn phụ thuộc vào điều kiện khách quan, đôi khi vượt quá tầm kiểm soát, ý chí của bản thân. Cho dù nhiều lúc ta đạt được những điều thỏa mãn này nhưng nó như những khoảnh khắc của khoái cảm, cảm giác nhất thời, thoáng qua bởi ham muốn của con người là vô cùng.Và lịch sử đã chỉ ra rằng, một số quốc gia trong cuộc mưu sinh chiếm đoạt của cải, tài nguyên thiên nhiên, thỏa mãn cho khát vọng giàu có,hạnh phúc của dân tộc mình dẫn đến xung đột, chiến tranh trong cạnh tranh sinh tồn…

Những nghiên cứu và dẫn chứng của Gs kinh tế tại Đại học Kinh tế London, Richard Layard đã cho thấy một cách nhìn độc đáo, sáng tỏ về xã hội và cuộc sống của chính con người chúng ta:

“…Dù thu nhập được tăng hơn gấp đôi, người phương Tây vẫn không hạnh phúc hơn cha anh họ năm mươi năm trước…; Một nghiên cứu mới nhất đã phát hiện rằng trong hơn nửa thế kỷ qua, khi các nền kinh tế phát triển hơn trước nhiều thì con người vẫn không có vẻ hạnh phúc hơn.”***

KẾT

Phải chăng Hiến Chương Trái Đất [5] đã được những tổ chức có thẩm quyền nhận thức đúng đắn và phổ cập ? Phải chăng “Chiến lựợc "Bảo tồn Thế giới” đã thực thi? Và tương lai nào cho xã hội loài người, và cho phát triển bền vững, khi vẫn còn đó những điều mê muội của con người, trong sự vận hành thế giới với những tư tưởng hủy diệt, lệch lạc, khập khiễn, thiếu nhất quán như hiện nay? Hành tinh suy kiệt, bệnh hoạn, biến dị; khí hậu biến đổi khắc nghiệt; thiên tai, dịch bệnh triền miên...;đạo đức băng hoại và văn hóa suy đồi.

Chúng ta đã có sự thành tựu phong phú và đáng kể về kinh tế trong rất nhiều công trình, sản phẩm phục vụ cho lợi ích của nhân loại. Nhưng đã tới hạn của sự phiêu lưu kinh tế, khi Địa Cầu không còn đảm bảo cho sự tồn tại của mình và tồn tại cho chúng ta để được hưởng những thành quả này.

Đã có rất nhiều nhà khoa học chỉ ra rằng: cần phải có tư duy mới về năng lượng. Thật vậy, một đời sống bền vững, phải trên cơ sở của việc xác định lại nguồn năng lượng xanh và sạch, mới đảm bảo cân bằng sinh thái và ổn định môi trường.

Đã đến lúc chúng ta cần tỉnh thức để thấu hiểu, xác định lại tư duy phát triển. Thận trọng, đắn đo, khi tiếp tục khai thác các nguồn tài nguyên khoáng sản đã cạn kiệt trong thiên nhiên, để chạy theo nền văn minh vật chất.

Tôn trọng, chung sống hòa bình, hài hòa với thiên nhiên. Đó là điều chắc chắn phải tuân phục một cách nhất quán nếu không muốn bị hủy diệt vì sự thờ ơ này!

Và thực tế xã hội loài người đang hiển hiện là một tất yếu đã xảy xa, đang xảy ra…để dẫn đến tình trạng khủng hoảng như hiện nay, cũng là một cơ hội cho chúng ta quán xét lại toàn bộ tri thức, nhận thức và hành vi của mình.

Trở lại câu chuyện của cô bé Serven Suzuki năm xưa...về nỗi ưu tư, yêu thương và đầy trách nhiệm với cộng đồng:...Vâng, nhưng những gì các vị làm khiến tôi khóc hàng đêm. Các vị luôn nói rằng các vị yêu chúng tôi, nhưng tôi xin thách thức các vị hãy hành động đúng như những gì đã nói

Ôi! thêm một lần nữa để chúng ta thấm thía, ngẫm ngợi, ray rức, thấu hiểu về mình, thấu hiểu trí tuệ và tư duy phát triển của nhân loại hiện nay. 

Cho dù chúng ta có mặc cảm tội lỗi trước lời thách thức năm xưa của Servern Suzuki, thì cũng mong mỗi người thêm một lần thức dậy lương tri để hành động xứng đáng với chức phận Con Người. 

Thấu hiểu, thay đổi thực tại để hướng đến tương lai không có phương cách nào bằng Cách mạng xã hội về tình Yêu thương Môi trường.

Cách mạng xã hội chỉ có thể đạt được thành tựu viên mãn nhất, lý tưởng nhất với tâm nguyện Thật Thà, Tử Tế, Bao Dung, Chân Thành và Thiện Lành. 

ĐỊA CẦU NÀY SẼ TƯƠI ĐẸP, BỀN VỮNG HƠN; XÃ HỘI LOÀI NGƯỜI CHÚNG TA SẼ RẠNG RỠ HƠN, DIỆU KỲ HƠN KHI MỖI CHÚNG TA DÁM THỰC HIỆN CÁCH MẠNG CÁ NHÂN MÌNH!

Tô Quốc Chung

Tháng 7/ 2014

Chú thích :

[1] https://www.youtube.com/watch?v=D0Z3EtO0Yx4

 /ScienceAndEnvironment/rio-20-summit-sustain-deve-gm-06252012141919.html
 * Ditto Samiento (1950 – 1977) Lãnh đạo sinh viên Philippin, chống lại chế độ thiết quân luật của cố Tổng thống Ferdinand Marcos.
 ** Ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bỡi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN)
 *** (Theo Đỗ Phương Tiến , DNSG cuối tuần - Số 252, tháng 7/2008).





Thứ Tư, 14 tháng 1, 2015

Tâm thức hiện sinh trong thơ Cát Du






Phê bình
Trần Hoài Anh

Trong tập thơ Điêu tàn, nhà thơ Chế Lan Viên đã từng đặt ra một vấn đề mang tính bản thể luận với câu hỏi chứa đầy tâm thức hiện sinh

Mà phải đâu đã đến ngày tiêu diệt!
Ai bảo giùm: Ta có, có ta không?

Câu hỏi của nhà thơ Chế Lan Viên ngày ấy mãi mãi là điều tự vấn mà không phải dễ gì tìm thấy câu trả lời trong cõi nhân gian này. Chính vì thế, không chỉ có Chế Lan Viên, mà còn biết bao nhà thơ khác đã đặt ra trong thơ mình những câu hỏi có tính triết luận như một tâm thức hiện sinh về sự hiện hữu của chính mình, trong đó có nhà thơ Cát Du, một phụ nữ Nam Bộ* vốn không phải là một vùng văn hóa với những con người mạnh về tư duy tư biện. Vậy mà ở Cát Du, ta lại thấy điều ấy hiện hữu trong thơ như một giọng điệu riêng.
Ta hãy nghe nhà thơ tự bạch:

Nàng bé tẹo
Tuổi chất cao hơn nàng
Vậy mà
Nàng biết đặt những câu hỏi của nhân loại
Ta từ đâu tới?
Tới để làm gì?
Ta sẽ về đâu?
( Nàng)

Quả thật, cũng như Chế Lan Viên, những câu hỏi trong thơ Cát Du là những vấn đề mang tính bản thể luận, luôn tồn tại như ám ảnh của một tâm thức hiện sinh mà tác giả cứ mãi đi tìm như đi tìm cái Tôi bản thể của mình. Đó là một cái Tôi vừa thực lại vừa ảo, vừa có lại vừa không, vừa gần gũi lại vừa xa xôi như một thứ ảo giác, nên khi nhìn vào gương, một chiếc gương cũng được làm bằng ảo giác của mộng mị vô thường, nhà thơ đã hoài nghi chính sự hiện hữu của mình:

Em đang làm gì?
Soi gương
Soi gương tìm gì?
Tìm em
Em sao?
( Ủa, lạ nào!)

Chính vì vậy, cho dẫu nhà thơ đã hóa thân thành nhiều cái tôi hiện sinh khác nhau: Có khi giống “nàng Nguyệt Nga mặc đồ cổ trang và ngồi trên xe ngựa liếc tình với Lục Vân Tiên”. Có khi lại “thấy mình giống công chức mặc áo cổ cồn và có đeo ve / công chức mặt nghiêm không hé môi cười”. Có khi lại “thấy mình đang gặt hái trên cánh đồng lúa / êm ả cò bay”... Nhưng rồi, tất cả những sự hóa thân này cũng chỉ là hư ảo. Bởi chính em cũng chỉ là ảo ảnh của em, nên những sự hóa thân này cũng chỉ là sự hóa thân của những ảo ảnh.

Màn nhung khép lại
Thế em đâu rồi?
Không biết
( Ủa!lạ  nào!)

Tuy nhiên, chính sự hóa thân này đã tạo nên bầu khí quyển hiện sinh trong thơ Cát Du. Đó là một thế giới hiện sinh đầy hư - thực. Thế giới ấy đã đem đến cho người đọc những liên tưởng thú vị, bất ngờ khi đắm mình trong cõi thơ đầy ma mị của Cát Du, một cõi thơ đầy chất phiêu bồng vốn là một yếu tính của thơ. Bởi nói như thi sĩ Bùi Giáng “cõi thơ là cõi bồng phiêu”. Và cõi bồng phiêu trong thơ Cát Du như một ẩn số đầy huyễn hoặc mà thi nhân cứ mãi đi tìm, như đi tìm bản thể của mình nhưng chẳng bao giờ có lời giải đáp. Bởi khi “Soi gương chỉ thấy cuộc đời” mà đó chỉ là “những cuộc đời không em”.

Có thể nói, sự bất lực trong hành trình tìm kiếm chính mình là một tâm trạng điển hình của tâm thức hiện sinh trong thơ Cát Du. Câu hỏi tồn tại hay không tồn tại mãi ám ảnh trong suy tư của loài người dù là phương Đông hay phương Tây. Để rồi, trong hành trình tìm kiếm cái bản thể ấy, con người có khi lại bắt gặp ảo ảnh của mình, trở thành “kẻ xa lạ” với chính mình. Và cái điều mâu thuẩn tưởng chừng phi lí ấy lại là một điều hoàn toàn có lý được biểu hiện sinh động trong tâm thức hiện sinh ở thơ Cát Du

Em ngắm anh mỗi ngày
Mà sao bỗng lạ?
Những tế bào yêu của ngày hôm qua đã chết
Cuốn đi nụ hôn nồng của em
Đôi môi mới của ngày hôm nay lạnh lùng, thờ ơ quá thể

Em nhìn thấy người đàn bà hệt em
Trong mắt anh lạ lẫm
Em của ngày qua đâu rồi?
Đâu rồi anh?
Anh của ngày qua đâu rồi?
(Lạ hoắc)

Triết gia Héraclite đã khẳng định: “không ai có thể tắm hai lần trên cùng dòng sông”. Vì vậy, cũng không có ai sống hai lần trong một khoảnh khắc của cuộc đời. Mọi việc trong cõi nhân sinh này vẫn trôi đi lặng lẽ, vẫn cứ tuần hoàn theo quy luật tự nhiên. Và con người không thể nào thoát khỏi cái qui luật “sinh lão bệnh tử” mà Đức Phật đã chỉ ra. Cái tâm thức hiện sinh này ta cũng cảm nhận được từ trong thơ của Cát Du.

Người đàn ông nhìn tôi
Cái nhìn lạ hoắc
Cắm vào đêm lạ hoắc
Môi chụm môi lạ hoắc
Cái nồng nàn mới toanh
Lại bắt đầu
(Lạ hoắc)

Để rồi từ sự “bắt đầu”, con người lại hành trình đến một “kết thúc” trong vòng quay của sự sống và cái chết, của hiện hữu và hư vô, của hữu hạn và vô hạn của kiếp nhân sinh giữa cõi vô thường. Và đó cũng là hành trình của tâm thức hiện sinh trong thơ Cát Du.

Sáng nay có người mẹ qua đời
Mặt trời rựng lên rồi tắt
Tôi thấy dòng người như đi về nơi tẩm liệm
Hàng cây bên đường cũng buồn thiu
Gió lặng im
như khóc
Có tiếng nấc chồi non
trong cành gãy
Mẹ ơi!
Mẹ!
( Mẹ ơi !)

Mặt khác, cuộc hành trình của tâm thức hiện sinh trong thơ Cát Du còn được biểu hiện ở khát vọng nhục cảm tinh khiết được chưng cất từ sự hiện hữu của hai thực thể CON và NGƯỜI mà Cát Du không hề lẫn tránh, không cao đạo nhưng cũng không buông tuồng suồng sả trước những tiếng gọi đầy chất hiện sinh này. Vì thế, những khát vọng nhục cảm trong thơ Cát Du không rơi vào thế giới của sự tầm thường, không dẫn dụ người đọc vào những thèm khát bản năng, trái lại nó đưa người đọc vào thế giới của sự thăng hoa, của những sáng tạo đầy khát vọng hiện sinh

Gương mặt vừa được hôn ngày hôm qua
thức dậy
vẫn còn mơ
Mắt em anh ánh
Môi em nồng nồng
Vòng tay âm ấm
Vẫn còn đâu đây
Thế mà người đã xa khơi
Người mang vòng tay của em đi đâu?
Bỏ mặc em trong cõi người giá lạnh này!
Hãy siết em lần nữa
Siết em lần nữa đi nào
Siết!
(Hãy siết em lần nữa)

Quả thật, tâm thức hiện sinh trong thơ Cát Du là tiếng gọi thẳm sâu từ cõi vô thức. Đó là một vô thức tiềm ẩn trong ý thức vô ngôn

Người đàn ông của cỏ
Gặp người đàn bà của cỏ
Xoắn vào nhau
Tung xòe
Quên mất gió đông
(Người đàn ông của cỏ)

Và chính cái tâm thức hiện sinh này đã trở thành một cảm hứng sáng tạo được thể hiện trong khá nhiều bài thơ của Cát Du như: Thoát, Mơ, Đen, Nhìn, Va tình, Thắp lửa, Lửa, Trăng lu, Người đàn bà soi gương, Khiết, Rời khỏi giấc mơ, Rơi… Nó là một phần không thể thiếu trong thế giới nghệ thuật và tư duy thơ của Cát Du. Nó như một thứ nhan sắc trong bút pháp thơ của chị để từ đó định hình một phong cách thơ Cát Du trong dòng chảy của thơ Việt đương đại. Và đây cũng là tiền đề hình thành cõi thơ Cát Du, cõi thơ của một người phụ nữ mang đầy khát vọng hiện sinh như một thứ căn cước minh chứng cho sự hiện hữu của mình giữa cuộc đời. Và đây là một thông điệp đầy tính nhân văn của tâm thức hiện sinh trong thơ Cát Du.

Có thể nói một điều khá độc đáo cũng được thể hiện trong tâm thức hiện sinh ở thơ Cát Du đó là sự kết hợp hài hòa giữa tư tưởng hiện sinh với tư tưởng thiền học qua thế giới nghệ thuật thơ với những hình tượng thơ đầy hư - thực. Cái cảm thức sắc - không ấy như một ám ảnh của vô thức và tâm linh đã tạo nên cho thơ Cát Du một giá trị mới đó là giá trị của sự hợp lưu giữa hai nền triết học Tây - Đông mà ta có thể tìm thấy trong nhiều bài thơ của Cát Du:

Em ở đâu?
Em ở đâu?
Em ngồi trong hốc mắt
Em ngồi trong hốc mắt làm gì?
Em làm gì?
Em nhìn
Em nhìn gì?
Nhìn em
Em thấy gì?
Chả thấy
Sáng trưng em chả thấy!
Chả thấy!
(Nhìn)

Hay :

Không đánh động gì cả
Chỉ có gió khẽ khàng
Làm
Lá bàng lay, lá bàng lay
Ôi!
Lá vàng sắp rụng
Lá biết
Sự đánh động của gió
Nhẹ nhàng thôi
Nhưng thời gian thở gấp
Lá đi
Lá đi trong chiều
nhẹ tênh
Có gió
Rù rì…
(Rơi)

Và từ trong sự đốn ngộ về tư duy triết học của chủ nghĩa hiện sinh và thiền học, Cát Du đã nhận ra nỗi đau của phận người, một nỗi đau luôn đồng hành cùng với sự hiện hữu của con người trần thế như một tất yếu mà con người không thể phủ nhận.

Là người
Không có nỗi đau sao được
Em không tin đâu!
Không tin
( Cát)

Vì nhận rõ được nỗi đau và sự gới hạn tất yếu của sự mong manh phận người nên tâm thức hiện sinh trong thơ Cát Du còn thể hiện ở một thái độ sống tận hiến trong từng sát na của cảm xúc và đam mê. Và chính xuất phát từ tâm thức hiện sinh này mà sự cảm nhận về tình yêu trong thơ Cát Du cũng nhuốm màu sắc hiện sinh

Không mùi vị gì cả
Chỉ vòng ôm là thực
Siết chặt là thực
Giãy giụa là thực
…………..
Rơi tõm vào
Cơn cuồng nhiệt
yêu.
(Ám ảnh màu chì)

Có lẽ, vì thế chăng mà thi nhân đã thú nhận những điều mà người ta cứ mãi che đậy bằng những bài học luân lý đạo đức đầy giả tạo, tởm lợm đến buồn nôn với những bằng “tiết hạnh khả phong” mà nhà văn thiên tài Vũ Trọng Phụng đã từng vạch trần và lên án trong tiểu thuyết Số đỏ nổi tiếng của mình. Điều này đã tạo nên một giá trị riêng trong thơ Cát Du, giá trị của sự thành thực mang tính NGƯỜI mà không phải ai cũng dám tự thú!? Phải chăng, đây cũng là tiếng nói từ ý thức về nữ quyền vốn chưa phải là điều đã được khẳng định trong thơ Việt.

Ta hãy nghe nhà thơ chia sẻ và thú nhận, một sự thú nhận thật đáng yêu. Bởi vì đó là một sự thú nhận dũng cảm và thành thật mà nói như Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam: “ Cái khát vọng cởi trói cho thi ca chỉ là cái khát vọng nói rõ những điều kín nhiệm u uất, cái khát vọng được thành thực. Một nỗi khát vọng khẩn thiết đến đau đớn.” (1)

Anh yêu!
Đêm qua có gã trai lạc vào ngôi nhà thiêng của chúng mình
Ngôi nhà em cất giữ tình yêu của anh thật chặt
Vậy mà
Hắn táo tợn
Dám nhìn xoáy vào tình yêu anh bằng cái nhìn thốc lửa
Làm tình yêu nóng ran
Nồng nàn
Thơm phức
Trời ơi!
Làm sao em cưỡng nổi một cơn giông?
Thôi đành để gió cuốn đi
Cuốn đi.
(Thôi đành để gió cuốn đi)

Thật vậy có thể nói, tâm thức hiện sinh trong thơ Cát Du không phải là một vấn đề gì mới mẻ và lạ lẫm trong thơ ca hiện đại Việt Nam. Trước 1975 ta thấy giòng tâm thức hiện sinh ấy đã ngập tràn trong thơ của Thanh Tâm Tuyền, Nguyên Sa, Vũ Hữu Định, Nguyễn Đức Sơn, Du Tử Lê, Tô Thùy Yên, Trần Dạ Từ, Cung Trầm Tưởng, Đinh Trầm Ca… với những câu thơ cũng đầy chất hiện sinh: “ Mười ngón tay sờ soạng giữa hư không / Đôi mắt đã trũng sâu buồn ảo ảnh” (2) Hay “ Anh sẽ còn chạy mãi dưới ngàn sao / Tìm ảo ảnh bay trên bờ bụi cát” (3). Và hiện nay cái tâm thức hiện sinh ấy cũng đang là một dòng chảy trong thơ của các nhà thơ trẻ đương đại như: Ly Hoàng Ly, Vy Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Nguyệt Phạm, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Lê Thiếu Nhơn, Đồng Chuông Tử, Trần Tuấn, Tuệ Nguyên,  Khánh Phương, Đỗ Doãn Phương

Sự biểu hiện của tâm thức hiện sinh ở mỗi nhà thơ không bao giờ giống nhau. Nhưng rõ ràng sự hiện hữu của tâm thức hiện sinh trong thơ của các nhà thơ hiện đại và đương đại Việt Nam là một thực thể không thể phủ nhận mà tâm thức hiện sinh trong thơ Cát Du không phải là một ngoại lệ. Có lẽ đây cũng là một xu hướng cho thấy sự tìm tòi, khám phá trong hành trình sáng tạo thơ của Cát Du nói riêng và các nhà thơ trẻ Việt Nam nói chung trong sự nỗ lực để vượt thoát sự sáo mòn công thức và tính đồng phục của thơ ca hiện đại Việt Nam ở một thời chưa xa cũng như sự cố gắng để khẳng định cá tính sáng tạo của họ trong nền thơ ca dân tộc.

Vì vậy, dẫu rằng trong thơ Cát Du không phải không còn những câu thơ chưa đạt đến độ chín của tư duy và chiều sâu của tâm hồn. Nhưng đó là một tất yếu trong hành trình sáng tạo đầy đau đớn của kiếp thi nhân. Song điều ấy chỉ là những bóng mờ trong cõi thơ Cát Du, còn phần sáng trong thơ chị nhìn từ mặt bằng chung của thơ Việt đương đại là đáng ghi nhận.

Và tôi tin rằng, người đọc có thể đồng cảm và chia sẻ với Cát Du những điều ấy để chỉ còn giữ lại trong tâm cảm của mình ý vị mặn nồng như một giá trị để chia sẻ với tâm thức hiện sinh trong thơ Cát Du, một tâm thức hiện sinh được chưng cất từ sự nghiệm sinh của cuộc đời thi nhân và đã bùng cháy thành ngọn lửa trong thơ và trong lòng người đọc khi đến với thơ Cát Du.

Hy vọng rằng, từ tâm thức hiện sinh này, Cát Du sẽ khám phá những chân trời mới trong cõi huyền diệu của thơ ca. Để từ sự hữu hạn của phận người nhà thơ sẽ đi vào sự vô hạn của nghệ thuật. Bởi nói như Saint-John Perse “…Thơ đã có từ khi con người ở trong hang đá, thơ vẫn sẽ có ở thời đại nguyên tử, vì thơ là phần không thể giảm trừ được ở con người”. Và “thế giới này rốt cuộc chỉ còn lại hai thứ, chỉ hai thứ thôi: Thi ca và lòng nhân ái… không còn gì khác” Cryian Norwid

Chú thích:

* Cát Du: tên thật Phan Kim Dung sinh và lớn lên tại tỉnh Bình Dương
(1) Hoài Thanh – Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, Nxb. Văn học, 2003, tr.18
(2) Thơ Nguyên Sa, Nxb. Thương Yêu, Sài Gòn, 1975, tr.18
(3) Vọng, Thơ Nguyễn Đức Sơn, Nxb. An Tiêm SG, 1972, tr.6

Gò Vấp, ngày 17/03/2011