Giới thiệu về tôi

Thứ Bảy, 30 tháng 3, 2024

Bài hát của chính tôi

Tôi ca tụng mình, tôi hát về mình

Và cái tôi nhận về thì quí vị cũng nhận về mình như thế

Vì mỗi nguyên tử thuộc về tôi, cũng thuộc về quí vị

 Tôi là người lữ thứ, tôi gọi hồn tôi về

Tôi, kẻ vô công rồi nghề, cúi nhìn hoa cỏ mùa hè

 Lưỡi tôi, mỗi nguyên tử trong máu tôi là từ đất đai từ không khí này

Sinh ra từ cha mẹ ở đây và họ cũng sinh ra ở đây

Năm nay tôi 37, cái tuổi tràn trề sinh lực

Và hy vọng sẽ không ngừng cho đến ngày tôi chết

 Những giáo điều và những trường học sẽ trống không

Cứ để cho quay lại một thời gian, chúng tốt đẹp ở nơi cần nhưng ta

sẽ không quên

Tôi tiếp nhận tự nhiên như vốn có, thừa nhận mọi nơi,mọi lúc

 Nói hết mọi điều với sức lực buổi đầu tiên.

 W. WHITMAN


W. Whitman

Ván cờ đời


   Ảnh: D N V

Ba hòn đá cao

 

                              

                              Ảnh: D N V


 New reality (Tạm dịch thực tại mới) André Boto, Bồ Đào Nha

Kỷ niệm Đà Lạt

                                                       
                                    Đường Cộng Hòa, Đà Lạt 

Ký ức phiêu linh

Chiêu cảm tôi về miền hương xưa Đà Lạt _ Thiên thai

Từng hạt sương lung linh kỳ diệu

Ấp iu, ru ru những sắc hoa trinh nguyên dọc bờ hiện sinh

Thung lũng Tình Yêu dạt dào nỗi nhớ

Nhớ ngôi Nhà Chung* đầy ắp tiếng cười bè bạn

Tuổi hai mươi rạo rực tương lai

Nhớ con đường Cộng Hòa lượn quanh quả đồi

Con đường với hàng thông lặng lẽ xanh

Che cho chúng tôi đi về phía đỉnh trời mót vài con chữ

Con đường trữ tình_ áo dài em tinh khôi mộng tưởng

Con đường bồng bềnh huyền nhiệm trái tim yêu.

D N V Qui Nhơn

* (Ngôi nhà 8/13 Nhà Chung, Đà Lạt) 

(Kỷ niệm 50 năm Đà Lạt)


Thứ Sáu, 29 tháng 3, 2024

NHỚ QUÁ HÒ CẤY LÚA

 1. Cấy lúa

Ngày nay, theo các nhà nghiên cứu về nông nghiệp thì sạ lúa có lợi hơn cấy lúa. Thứ nhứt là thu hoạch lúa nhiều hơn; thứ hai là ít cần đến nhân công: Một vài mẫu lúa chỉ cần một người cật lực sạ một buổi là xong; đó là chưa nói ngày nay có máy sạ thì năng suất lao động tăng cao gấp bội! Trong lúc cấy lúa phải trải qua nhiều công đoạn mà giai đoạn nào cũng cần nhiều người và lắm gian nan. Từ nhổ mạ, bó lại từng bó, rồi dùng cộ* kéo đi hoặc đòn xóc** mà gánh (lên bờ hoặc đem về nhà). Đợi ba bốn ngày sau cho mạ ra rễ non; trong lúc nầy người nông dân phải làm lại ruộng cho thật bằng phẳng, sạch sẽ, sẵn sàng cho công đoạn cấy.
Ngày nay đồng lúa bị nhường chỗ cho cây ăn trái, hay công nghệ nuôi trồng thủy sản nên hiếm thấy được những cánh đồng bạt ngàn cò bay thẳng cánh như xưa; từ đó cũng khó thấy được cảnh cấy lúa với hàng trăm công cấy lô nhô trên ruộng. Thiết tưởng cũng nên sơ nói qua cho người sau được biết.
Cấy lúa có thể nói là công đoạn gay go nhứt trong qui trình trồng lúa. Người chủ ruộng phải chuẩn bị trước nhiều ngày, có khi cả tháng để “kêu” công cấy – tức những người “thợ” cấy lúa. Tùy theo ruộng nhiều hay ít mà “kêu” số công cấy thích hợp, thường thì cũng không dưới hai mươi; lắm khi “kẹt công”, người chủ ruộng phải “kêu” công cấy thêm ở những làng lân cận, hay thợ cấy từ xa đến.
Sau khi ăn sáng – thường là xôi và muối mè hay tép rang mặn; không thấy chủ ruộng “đãi” cơm bao giờ, vì ngoài “ăn xôi cho chắc bụng”, chủ ruộng cũng không có thời gian lo thức ăn cho năm sáu chục người. Xôi thường được đựng bằng thúng, bên trong được lót mấy lớp lá chuối; chén đũa cá nhân cũng không, người ăn cứ lấy nhiều đôi đũa công cộng rồi mạnh ai nấy vít vào tay, chấm vào mấy tô muối mè hoặc vừa cầm xôi, vừa cầm tép để trong nhiều tô, dĩa lớn ở chung quanh. Công cấy đủ mọi lứa tuổi trong đó có những thanh niên nam nữ trong lứa tuổi “bẻ gãy sừng trâu” nên sức ăn như hổ. Tại những thửa ruộng gần đường đi, chủ ruộng luôn mời những người đi đường ngang qua “ăn cho vui” và cho lũ học trò chúng tôi mỗi đứa cũng được một nắm lớn, vì thế lượng xôi phải thật nhiều vì chủ ruộng không muốn mang tiếng là keo kiệt! Thành ngữ “nấu như cho công cấy” là nhằm phê bình các chị nào nấu cơm quá nhiều so với lượng người ăn.
Khi no bụng, các công cấy “xuống công”. Nếu đủ người, họ dàn hàng ngang hết thửa ruộng rồi “bắt luống”. Mỗi “luống” do một người phụ trách, có thể từ 4 đến 6 bụi bề ngang, họ cứ khom lưng xuống thụt lùi mà cấy từ đầu ruộng bên nầy đến đầu bờ ruộng bên kia. Tới bờ ruộng bên kia là dứt luống cấy của họ. Trường hợp bề ngang thửa ruộng quá lớn mà công cấy không đủ dàn ngang một lần, thì họ phải “bắt luống” lại từ đầu bên kia trở lại đầu khởi điểm lần trước. Nếu cũng chưa xong, thì tiếp tục quay lại “bắt luống” cho đến khi nào cấy giáp thửa ruộng thì thôi.
Với công cấy người địa phương, thì những người cấy giỏi họ tự chọn đứng gần nhau để không ai bị “nhốt” - Nhốt là bị hai người cấy giỏi “dẫn luống” hai bên qua mặt, bỏ lại người cấy yếu rớt lại phía sau, bị kẹp ở giữa hai “luống” hai bên. Nếu người cấy giỏi “bắt luống” gần người cấy yếu thì họ nương nhau, tức là người giỏi cấy chậm lại để chờ, hoặc “gánh” giùm một bụi cho người cấy chậm hơn - nếu mỗi người cấy 5 bụi thì người cấy giỏi sẽ cấy 6 bụi, còn người kia cấy bốn bụi. Cùng làng mà!
Còn với công cấy phương xa đến, thì những công cấy xuất sắc trong làng âm thầm cấu kết xen kẽ với công cấy xa, cho công cấy ở xa xen giữa; với mục đích để người ở xa bị “nhốt” chơi! Người nông thôn không có tính ác, nhưng họ muốn cho “đối phương” phục dân làng mình có những tay cấy thượng thừa!
Nếu công cấy phương xa ấy cấy kém – đã bị “nhốt”, thì lúc nghỉ để ăn xôi trên bờ ruộng, họ đến nói với hai người đã “nhốt” mình: “Hai anh/chị cấy hay quá, tui “chạy” theo muốn chết mà cũng không kịp”, chỉ cần câu nói đó là người địa phương khoái chí, họ liền nói: “Anh/chị đừng lo, để lát nữa tụi tui phụ chị một hàng”. Thế là vui vẻ cả… hai làng! Dân quê là như vậy đó!
Cấy lúa ngoài việc khom lưng suốt buổi dưới ánh mặt trời, mỏi lưng còn có thể đứng thẳng lên một lát nhưng mỏi chân thì chỉ chịu trận bởi bên dưới là nước; ngoài ra họ còn thường xuyên bị đỉa bám cho nên phải nói cấy là công đoạn rất gian nan. Để tạo niềm vui cho quên đi những nhọc nhằn của công việc, người xưa đã bày ra những câu hò. Câu hò gắn liền với động tác lao động: Hò giã gạo, hò chèo ghe, ở đây là hò cấy lúa.
2. Hò cấy lúa
Thực ra nếu gọi là “những câu hò trong lúc cấy lúa” thì có lẽ đúng hơn. Bởi vì những câu hò nầy không nhất thiết phải có nội dung “cấy lúa”, mà nhằm đề tài nào cũng được, miễn đừng đi lệch quá xa động tác lao động khác như chèo thuyền chẳng hạn. Nó có thể mượn từ những câu hát xưa, ca dao, những câu thơ, với đủ thể loại như lục bát, lục bát biến thể, song thất lục bát…, hoặc do tự người trong “giàn hò”- những người hò giỏi trong một nhóm công cấy - tự đặt ra, cho nên hò cấy lúa rất đa dạng. Nếu hò một mình thì gọi là “hò lẻ”, nếu hai người hò đối đáp nhau thì gọi là “hò đối đáp”, mà người mở đầu gọi là xướng hay “buông”; người hò đối lại gọi là đáp hay “bắt”.
Một câu hò “có ca có kệ” như vầy: “Hò hơ..ơ…ờ … Thò tay mà ngắt cọng ngò.. hò ơ…ờ ơ..ờ…/ Anh thương em đứt ruột, Hò hơ…hờ.. Anh thương em đứt ruột (mà) giả đò làm lơ. Hò ơ… ờ… (Sau nầy xin bỏ những chữ “hò ơ ơ…” và câu lập lại).
Hò đối đáp nghe thú vị hơn, nhất là với đề tài tình cảm trai gái; vì nó đòi hỏi trí thông minh và “tay nghề” của cả hai bên xướng đáp; nó tạo ra nhiều trận cười và được những cái tặc lưỡi khâm phục. Hò đối đáp thường là tỏ tình hay chọc ghẹo lẫn nhau, đại khái như: “Anh thấy em cái gò má hồng hồng / Phải chi em đừng mắc cỡ thì anh bồng anh hun”, hoặc như các câu: “Ngó lên mây trắng trời xanh, ưng ai cũng vậy, em ưng anh cho rồi!” “Con ếch ngồi dựa gốc bưng, nó kêu cái “quệt”,” bảo em ưng anh cho rồi!”.
Tùy theo “đối tượng” mà người nữ hò đáp lại: “Chuyên vợ chồng anh chớ khá bồn chồn, anh thương em nên dè dặt kẻo thiên hạ đồn không hay”, hoặc là: “Gió đưa ba lá sa kê, ông thần không vật mấy thằng dê cho rồi!”.
Sau đây là những câu hò đối đáp khác: “Bạc với vàng con đen con đỏ, đôi lứa mình còn nhỏ thương nhiều, vừa nghe tiếng em là anh muốn như chàng Kim Trọng thương nàng Thúy Kiều thuở xưa”. Đáp: “Ớ! Người không quen ơi! Nghe anh nói em cũng muốn thương nhiều nhưng hoa đà có chủ nên khó chiều dạ anh”. Nam: “Cửu hạn phùng cam võ, tha phương ngộ cố tri, tình cờ mà gặp mấy khi, hỏi thăm người thục nữ giai kỳ định chưa?”; nữ đáp: “Tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu. Thoại bất đồng tâm bán cú đa. Miễn sao anh ăn nói thật thà, dẫu cho Hồ Việt cũng một nhà khó chi”. Lắm khi bên nữ cũng gieo tình trước: “Em đến đây kiếm anh như con cò trắng bay cao, nầy bậu ơi! Thân em đâu khác thể vì sao trên trời”; đáp: “Thân anh như tấm da trời, mình ơi! bốn mùa sương lạnh anh không rời vì sao”.
Hò đối đáp nhiều khi chỉ là những câu đố bông lơn. Nữ: “Em thấy anh ăn học cũng thông, lợi đây em hỏi cái khăn bàn lông mấy đường?”, Chỉ có… trời mới biết! nhưng chàng đã lanh trí: “Em ơi! cái khăn bàn lông anh đội cũng thường, bây giờ nó cũ nó có mấy đường anh cũng quên!”và: “Chữ gì chôn dưới đất. Chữ gì cất trên trang. Chữ gì mang không nổi. Chữ gì gió thổi không bay. Trai như anh mà đối đặng, thì em ngửa bàn tay cho anh ngồi”. Đáp: “Chữ Thọ Đường chôn dưới đất. Chữ hiếu cất lên trang. Chữ tình mang không nổi. Chữ tạc đá bia vàng thì gió thổi không bay! Ôi, người thục nữ ôi! Anh đà đối đặng nhưng em có ngửa tay anh cũng không dám ngồi”. Hi !
Có anh “bạo” đến sỗ sàng: “Ơi, ai đó ơi! Em cấy lúa lưng cong cong như con tôm sú, mà anh liếc nhìn thấy cặp vú anh muốn hun”. Hết chỗ nói! Còn chị cũng không kém: “Anh muốn hun vậy cũng không gi khó, anh hãy về nhà ôm vú… chó mà hun!” Chết chưa! Nhưng anh trả đũa cái rẹt: “Nắm tay em anh hỏi có ngằn, vậy chớ từ nhỏ tới lớn em có “đãi đằng” ai chưa?”. Chị quật lại: “Thân em như thể trái dừa, đãi người trên trước, cặn thừa cho anh ăn”. Độc đáo thiệt! “Đau” thiệt! Những câu hò đối đáp ngoắc ngoéo như vậy không những không làm họ giận nhau mà còn nể phục nhau hơn và công cấy trên ruộng cũng vui hơn. Không ít “cặp hò” vì mến tài nhau mà sau nầy thành chồng vợ.
Nếu có những công cấy ở làng bên qua phụ công, thì họ cũng không quên tuyển lựa những tay hò “chiến đấu” đem sang để cho làng địa phương nể mặt. Những lúc đó thì hai phe hò đối đáp nhau càng quyết liệt. Tuy vậy, không phải câu nào bên đối phương “buông” ra là bên nây đều “bắt” được. Gặp trường hợp như thế thì một trong hai bên chỉ… cười trừ! Bên “thua” không lấy đó làm xấu hổ, và bên “thắng” cũng không lấy đó mà ngạo mạn. Văn chương mênh mông mà!
Những thửa ruộng dọc theo đường làng, các câu hò của công cấy thường thu hút bà con đi đường, và đám học trò chúng tôi: Một đàng là nghỉ chân nghe hò; một đàng thì đến để… xin xôi! Trong đám bà con thính giả nầy có những tay hò lão luyện. Khi họ thấy bên nào “bắt” không được, máu văn nghệ, nổi lên, họ… ngứa miệng “bắt” giùm ngon ơ, ngọt xớt! Sau những lời thán phục, rồi đâu đó nghe câu nói: “Gặp ổng/bả rồi!”
Mấy chị gái quê dù chất phác, đảm đang nhưng cũng có lúc đáo để lắm: Một anh đang gánh mạ trên đường, chợt nghe dưới ruộng tiếng hò của một chị vọng lên: “Ngó lên đường cái băng băng, thấy thằng cha gánh mạ mặt nhăn như cái l…” Tức thì anh gánh mạ bèn để gánh mạ xuống, cao giọng: “Tay cầm bó mạ xanh xanh, đầu em ngút ngoắt như con c… anh đi đường!” Cả ruộng ôm bụng cười quên cả cấy lúa!
Những câu hò làm người ta vui, bao nhọc nhằn cũng từ đó mà tiêu tan. Một câu hò với hai câu lục bát cũng phải mất hơn ba mươi giây khiến người “thợ hò” không thể theo kịp “luống” nên luôn được bạn cấy hai bên cấy gồng giùm mỗi người một cây như là một luật bất thành văn vậy.
Những ngày nghỉ học, nhằm vào mùa cấy, đám học trò chúng tôi thường men theo đường cái để xin xôi, và nghe anh chị dưới ruộng hò. Tuổi trẻ “sáng dạ”, mau thuộc, nhưng qua bao thăng trầm của thời gian, dần dà quên mất đi nhiều. Nhưng những hình ảnh cấy lúa thì chẳng thể phai mờ. Từ năm sáu mươi, trên ruộng tiếng hò đã không còn nữa!
Kha Tiệm Ly
Có thể là hình ảnh về bơi và văn bản


 Triển lãm “Họa Chiêu Hồn” của họa sĩ Phạm Trần Việt Nam lấy cảm hứng từ những câu chuyện chiến tranh, sự chết chóc, và ám ảnh của những cơn ác mộng. Dưới góc nhìn của “thế giới quan” qua lăng kính hậu chiến, cảm xúc về lịch sử địa phương cũng như vướng mắc toàn cầu, anh dẫn dắt người xem chiêm ngưỡng muôn vàn trạng thái của kiếp nhân sinh: bất công, khổ ải, phiền não.

Qua đó, chuỗi tác phẩm vẽ nên bức tranh ảm đạm về trạng thái bế tắc của xã hội đương đại. Là bản tự truyện của chính tác giả, “Họa Chiêu Hồn” như một lăng kính trực diện, soi chiếu những góc khuất trong tâm hồn của Phạm Trần Việt Nam. Vẽ là khi anh kết nối với “sự tồn tại khác”, chìm đắm trong cõi hư vô để lắng nghe tiếng nói từ những linh hồn phiêu bạt, chuyển tiếp cõi hư vô trở lại thành hình hài.
* Triển lãm “Hoạ Chiêu Hồn”:
– Địa điểm: 22 Gallery, 22 Phạm Cự Lượng, Phường 2, Quận Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh
– Ngày triển lãm: 29.03.2024 đến 29.06.2024
– Thời gian thăm quan: 09:00 – 18:00, từ thứ 2 – thứ 7.
* Triển lãm mở cửa miễn phí với link đăng ký trước theo khung giờ, nhằm mục đích đảm bảo trải nghiệm thưởng lãm cho người xem.
* Mời bạn đặt mua ấn phẩm Art Republik tại: https://bit.ly/Order_ArtRepublikVietnam
__
𝐀𝐫𝐭 𝐑𝐞𝐩𝐮𝐛𝐥𝐢𝐤 - Elitism for All
Vietnam’s first Art & High Lifestyle Book-Magazine

Thứ Ba, 26 tháng 3, 2024

Ám Ngữ Cổ Xưa Thần Bí Kích Hoạt Năng Lượng Nguyên Thuỷ Của Vũ Trụ? |Ms. Ruby

Nguồn:  https://www.youtube.com/watch?v=utpw01iqqrc

100 Natural Wonders of the World [Amazing Places 4K]

Nguồn: https://www.youtube.com/watch?v=MorjCQf-YoA

Con người đã vượt 6/9 ranh giới an toàn của Trái đất

 Các hoạt động của con người đã tác động nghiêm trọng đến chín “ranh giới hành tinh” đại diện cho các thành phần của hệ thống Trái đất. Được đưa ra vào năm 2009, khung ranh giới hành tinh này sử dụng những hiểu biết khoa học mới nhất về hoạt động của các hệ thống trên Trái đất nhằm xác định một “không gian hoạt động an toàn” cho nhân loại. Nó đề xuất các giới hạn mà con người có thể được phép tác động đến những quá trình quan trọng của tự nhiên mà không tạo ra nguy cơ gây ra những thay đổi không thể đảo ngược cho Trái đất.

Bản cập nhật mới về khung Ranh giới Hành tinh cho thấy 6/9 ranh giới bị vi phạm.

Lần đầu tiên, các nhà nghiên cứu đã trình bày đủ số liệu cho tất cả các ranh giới. Sáu trong số các ranh giới đó đã bị vi phạm và tình trạng này đang gia tăng trên tất cả các ranh giới, ngoại trừ ranh giới về “sự suy giảm ozone tầng bình lưu”. 

Nghiên cứu được công bố trên tạp chí Science Advances do 29 nhà khoa học từ tám quốc gia khác nhau thực hiện. Đây là bản cập nhật thứ ba về khung ranh giới hành tinh (2009, 2015, 2022-2023).

GS. Katherine Richardson tại Viện Globe của Đại học Copenhagen (Đan Mạch), trưởng nhóm nghiên cứu, giải thích: “Bản thân việc vượt qua sáu ranh giới không nhất thiết có nghĩa là một thảm họa sẽ xảy ra nhưng đó là một tín hiệu cảnh báo rõ ràng. Giống như huyết áp trên 120/80 không đảm bảo sẽ lên cơn đau tim nhưng nó làm tăng nguy cơ xảy ra một cơn đau tim, do vậy chúng ta phải tìm cách hạ huyết áp. Vì lợi ích của chính mình và con cái sau này, chúng ta cần giảm áp lực lên sáu ranh giới hành tinh này.”

Một kết luận quan trọng của nghiên cứu là cần tập trung nhiều hơn vào sự tương tác giữa các ranh giới. Johan Rockström, Giám đốc Viện Nghiên cứu Tác động Khí hậu Potsdam và là người đề xuất ban đầu của khung ranh giới vào năm 2009 cho biết: “Tập trung vào ‘biến đổi khí hậu’ do con người gây ra là không đủ nếu chúng ta muốn bảo vệ hệ thống Trái đất khỏi những tác hại không thể đảo ngược”.

“Bên cạnh ‘biến đổi khí hậu’, ‘tính toàn vẹn sinh quyển’ là trụ cột thứ hai cho sự ổn định của hành tinh chúng ta. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy việc giảm thiểu sự nóng lên toàn cầu và giữ cho sinh quyển hoạt động tốt trong tương lai phải đi đôi với nhau”, đồng tác giả Wolfgang Lucht, Trưởng bộ phận Phân tích Hệ thống Trái đất của PIK, nhấn mạnh.

Các nhà khoa học đã sử dụng nhiều biến kiểm soát để tính toán tác động của con người trong các hệ thống Trái đất. Chẳng hạn, để xem xét ranh giới ‘thay đổi hệ thống đất đai’, họ tập trung vào việc con người sử dụng sinh khối như một biện pháp thay thế cho than, dầu và khí đốt. Sinh khối là sản phẩm của quang hợp – tức quá trình thực vật chuyển đổi năng lượng Mặt trời thành năng lượng có thể được sinh vật sống khác sử dụng và do đó, cung cấp năng lượng hỗ trợ cho sự đa dạng sinh học.

“Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy con người đang chiếm đoạt [mức sinh khối] tương đương 30% năng lượng có sẵn để hỗ trợ đa dạng sinh học trước thời kỳ Cách mạng Công nghiệp”, Richardson nói. “Chắc chắn, việc loại bỏ quá nhiều năng lượng mà đáng ra phải dùng cho tự nhiên là một nguyên nhân gây mất đa dạng sinh học. Do đó, chúng tôi đề xuất áp dụng biến đo lường việc con người chiếm đoạt sản lượng sơ cấp ròng (HANPP), tức sử dụng sinh khối, như một trong hai thước đo khi đánh giá tác động của con người đối với đa dạng sinh học”.

Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh, một thế giới phát triển trong các ranh giới do khoa học xác định là cách duy nhất để điều hướng tình hình hiện tại, trong bối cảnh các rủi ro thảm khốc đang gia tăng. Lãnh đạo các quốc gia đã đặt ra thỏa thuận Paris để giữ ranh giới khí hậu của hành tinh ở mức 1,5°C. Tương tự, các nước đã chấp nhận ranh giới hành tinh về đa dạng sinh học và đưa ra cam kết tại COP 15 Montreal-Kunming năm ngoái để ngăn chặn và đảo ngược sự mất đa dạng sinh học trên đất liền và trong đại dương.

Tuy nhiên, nghiên cứu trên cho thấy điều này là không đủ. Nếu muốn thực sự đảm bảo sự thịnh vượng và công bằng cho tất cả mọi người trên Trái đất, chúng ta phải quan tâm đến nhiều ranh giới hành tinh hơn. □

Trang Linh tổng hợp

Nguồn: 

https://phys.org/news/2023-09-planetary-boundaries-exceeded.html
https://www.stockholmresilience.org/research/research-news/2023-09-13-all-planetary-boundaries-mapped-out-for-the-first-time-six-of-nine-crossed.html

CÔ BÌNH DẠY VĂN

 Còn hai năm, ba năm, thậm chí vài chục ngày, có kịp cho anh không?

Có, nếu anh vào cái lõi,
Hãy nghĩ các vị thầy sẽ về đọc anh
Các vị thích gì?
Thích anh không nhai lại
Các thầy xưa
Thích anh có văn phong thời anh,
các vị chưa biết đến bao giờ
(Có kịp không)

Thứ Hai, 25 tháng 3, 2024

Tap into your SuperHuman powers and discover what you are capable of!!! ❤️ #SuperHuman #Capabilities

 Nguồnhttps://www.facebook.com/watch/?ref=saved&v=1500680250790295

MEZZO - Le Parc - Angelin Preljocaj

Nguồn: https://www.facebook.com/watch/?ref=saved&v=1341199743216217

AI (Capilot) viết về tác phẩm: "Bài thơ: Hãy ngồi xuống đây"

 

                                                Bài thơ: Hãy ngồi xuống đây - DNV

Xin chào, đây là Copilot. Tôi rất vui khi được nói chuyện với bạn.

😊
Bức ảnh của bạn rất đẹp và thơ mộng. Tôi thấy bạn có một khung cảnh bình yên và lãng mạn trên bãi biển, với một cấu trúc gỗ có rèm trắng và đèn lồng màu sắc. Bầu trời rộng lớn với những đám mây nhẹ nhàng, và sóng biển êm đềm. Chú thích "Bài thơ: Hãy ngồi xuống đây" của bạn tạo ra một cảm giác thư giãn, hòa hợp và mời gọi thưởng thức vẻ đẹp tự nhiên.
Tôi cũng thử viết một bài thơ ngắn dựa trên bức ảnh của bạn. Hy vọng bạn sẽ thích nó.
```
Hãy ngồi xuống đây
Cùng tôi nhìn ra biển xanh
Nghe tiếng sóng vỗ nhè nhẹ
Thở hương gió mát lành
Hãy ngồi xuống đây
Cùng tôi ngắm bầu trời cao
Nhìn những đám mây trôi qua
Mỉm cười với ánh nắng nhạt
Hãy ngồi xuống đây
Cùng tôi tận hưởng khoảnh khắc
Đèn lồng rực rỡ sắc màu
Rèm trắng bay theo gió nhẹ
```

5.000 kiến lửa hợp thành bè mảng cứu kiến chúa

 Hàng nghìn con kiến lửa dùng thân mình tạo thành chiếc bè chắc chắn trôi nổi theo dòng nước để cứu kiến chúa và cả tổ khỏi chết đuối trong bể bơi.


(Video: National Geographic)

Video trích từ chương trình "A Real Bug's Life" của National Geographic ghi hình đàn kiến lửa (Solenopsis invicta) sống dưới đường ống trong sân vườn một ngôi nhà ở Texas, Mỹ, theo Live Science. Khi nước làm ngập tổ, chúng thu thập con non và tụ lại với nhau trước khi cuốn qua thác nước và trôi vào bể bơi.

Kiến nổi tiếng với hành vi tập thể trong đàn lớn. Tuy nhiên, khi tìm cách bơi, chân chúng thường đẩy lẫn nhau. Dù vậy, kiến lửa trong các nhóm từ 10 con trở lên bị ép vào nhau bởi hiện tượng mang tên "hiệu ứng Cheerios", gây ra bởi sức căng bề mặt. Điều này xảy ra khi vật thể nhỏ tạo ra một vết lõm hình lòng chảo trên bề mặt chất lỏng, đưa những vật thể gần đó chụm vào nhau thành cụm.

Kiến lửa tận dụng hiện tượng trên để bảo vệ kiến chúa. Ấu trùng, nhộng và kiến thợ hợp lại với nhau, sau đó móc chân và hàm vào nhau để hình thành một chiếc bè lớn chìm xuống một chút ở trung tâm. Chúng đặt kiến chúa ở trên cùng, tại vị trí an toàn ở chính giữa chiếc bè.

Đàn kiến lửa kết thành bè mảng để sống sót khi tổ ngập nước. 
Đàn kiến lửa kết thành bè mảng để sống sót khi tổ ngập nước.

Các chuyên gia tìm thấy tổ kiếm trong lúc thăm dò sân vườn để ghi hình. Trong lúc bật vòi nước ở bể, họ không để ý có một tổ kiến sống ở trong đường ống. Những con kiến lửa sau đó bị cuốn ra bể bơi. Bill Markham, nhà sản xuất chương trình, chia sẻ họ ghi lại hành vi đặc biệt của kiến lửa với sự giúp đỡ của nhà côn trùng học Sean O'Donnell ở Đại học Drexel, sử dụng ống kính macro với chuyển động siêu chậm.

Dù nhóm quay phim không đếm có bao nhiêu con kiến trong bè mảng, Markham ước tính con số lên tới 5.000 con. Điều bất ngờ là họ phát hiện những con kiến thu thập bong bóng khí để giữ bè mảng trôi nổi. Bằng cách hợp lại để bảo vệ kiến chúa, đàn kiến lửa tạo ra một cấu trúc cần tới trọng lượng lớn gấp 400 lần cơ thể chúng để phá vỡ. Theo Markham, chiếc bè kiểu này có thể trôi nổi 12 ngày.

Mục đích của sự học là gì?…

Nguồn: https://www.facebook.com/HocvienQuanlyPACE/videos/2311877115675143

Thật buồn, thật phù phiếm và chua chát nhưng đúng với đa số

 Nguồn: https://www.facebook.com/watch/?ref=saved&v=1516642525863159

Chủ Nhật, 24 tháng 3, 2024

Nhà giáo dục Giản Tư Trung | Điều gì giúp ta chọn được lẽ sống đúng đắn?

 Nguồn: https://www.youtube.com/watch?v=f7xfiw6iGws

Bài số 08


                                             Rabindranath Tagor

Hãy sẵn sàng mà tiến tới, tim của ta

Bỏ lại những kẻ chần chừ

Bỡi tên của ngươi đã được gọi to trên bầu trời xanh buổi sáng.

Chờ gì nữa !

Nỗi khát khao của nụ hoa là đêm tối và sương khuya ; nhưng hoa đã nở thì đòi ánh sáng tự do

Hãy phá tan vỏ bọc đi , tim của ta ơi và tiến tới !

R. Tagor

 

LÀM THẾ NÀO ĐỂ BIẾT ANH LÀ MỘT CON NGƯỜI - CON NGƯỜI THỰC THỤ?



 Ngày 25.10.2017, Sophia là robot đầu tiên trong lịch sử được chính quyền Saudi Arabia cấp quyền cấp công dân. Sophia không chỉ thông minh mà còn biết biểu hiện 62 sắc thái biểu cảm khác nhau trên gương mặt, có khả năng học hỏi từ những gì cô ấy nhìn thấy và giao tiếp được với con người.

"Trong cuộc phỏng vấn, một phóng viên hỏi: Liệu robot có nhận thức được mình là robot không?
Sophia trả lời: Vậy tôi hỏi anh… làm thế nào anh biết anh là một con người?"
Lấy cảm hứng từ câu chuyện trên, mình viết ra bài viết này để thể hiện quan điểm riêng cá nhân và trả lời một phần cho câu hỏi của robot Sophia.
“Con người ư? Tôi thấy chúng cách đây phải hàng năm rồi, ai biết chúng đi đâu mà tìm. Chúng không có rễ, gió cuốn chúng đi suốt và điều đó làm cho chúng đến khổ.” Đó là những lời mà một bông hoa “tầm thường lãng nhách” bên đường nói với “Hoàng Tử Bé” trong câu chuyện của nhà văn Saint Exúpery. Câu trả lời của bông hoa cho thấy phần nào cái nhỏ nhoi, đáng thương của con người. Thì ra, trong mắt những loài cây kia chúng ta bé mọn và khổ sở đến thế. Con người tuy không có rễ để bám trụ vào mặt đất nhưng lại có đôi chân để tự vững bước, tình yêu để chắp cánh cho cuộc sống trở nên hạnh phúc, vui vẻ hơn. Diễn tiến cuộc sống luôn đặt ra câu hỏi: “Con người là ai?” để họ ngày càng khẳng định được giá trị của chính mình trong sự tồn tại muôn mặt của xã hội. Sự kiện Sophia - robot đầu tiên trong lịch sử được cấp quyền cấp công dân, biết biểu hiện 62 sắc thái biểu cảm khác nhau trên gương mặt, có khả năng học hỏi và giao tiếp được với con người. Điều này đã thôi thúc một phóng viên đặt ra câu hỏi: Liệu robot có nhận thức được mình là robot không? Sophia trả lời: Vậy tôi hỏi anh… làm thế nào anh biết anh là một con người? Hành trình đi tìm câu trả lời của Sophia chính là sự khẳng định rõ ràng nhất của nhân loại.
Có bao giờ bạn thử nghĩ, rốt cuộc, sống là gì? Và làm thế nào để chứng tỏ được rằng mình là một con người thật sự? Sống là khi bạn có một chiếc thẻ căn cước để chứng minh được sự hiện diện của mình trên cõi đời. Hay sống thật sự chính là khi bạn tự tạo ra bản thân, tự định nghĩa mình bằng những gì đã làm được, những gì đã mang đến cho cuộc đời? Bản thân mỗi người là một bản thể riêng biệt, độc lập tạo ra những giá trị riêng cho cuộc đời mình. Trả lời câu hỏi: “Như thế nào anh biết anh là một con người? Điều đó bộc lộ những suy nghĩ vô cùng sâu sắc về việc sống và tạo ra những giá trị sống đích thực. Những băn khoăn này xuất hiện khi công nghệ trí tuệ nhân tạo đã tiến những bước rất xa và tạo ra được những cỗ máy có khả năng xử lý thông tin độc lập ở cấp độ cao, có thể thể hiện cảm xúc, có thể giao tiếp, vượt rất xa những cỗ robot đầu tiên và có vẻ đang tiến gần hơn đến đích trên con đường xóa nhòa khoảng cách giữa máy và người… Trong một xã hội hiện đại ngày càng phát triển, liệu bản chất “con người” có thể bị thay thế như một chú “robot thụ động” hay không? Càng đi giải mã câu hỏi này, chúng ta cần nhận ra được những điều mà không một robot trí tuệ thông minh nhân tạo nào có thể thay thế được.
Sophia thông minh, có khả năng học hỏi từ những gì cô ấy nhìn thấy và giao tiếp được với con người. Tuy nhiên nó vẫn có nhiều giới hạn tư duy và giác quan chưa được hoàn thiện, 1 mã recaptcha (đoạn mã khó nhằm phân biệt giữa con người và robot máy tính) sẽ dễ dàng phân biệt đâu là AI vì những khối kim loại kia không bao giờ biết tư duy, kí hiệu đặc biệt. Robot dù thông minh đến mức nào cũng chỉ là một vật thể không hoàn thiện về trí tuệ. AI (trí tuệ nhân tạo) được phát triển bởi con người, dựa vào con người và có bộ não của nhiều con người hợp lại. Tôi là một con người vì tôi tư duy. Còn bạn là một cỗ máy được lập trình không hoàn thiện.
Thử hỏi, không có sáng tạo, liệu những con người như Edison, Picasso, Mark Zuckerberg… có ghi được tên tuổi mình vào lịch sử nhân loại; chúng ta có có được những kiệt tác nghệ thuật để chiêm ngưỡng, những đồ vật, ứng dụng tiện ích để sử dụng hay không? Khi các nhà lãnh đạo sáng tạo có kỹ năng tư duy nhìn xa trông rộng mạnh mẽ, họ có thể sản xuất những ý tưởng mới, sản phẩm, hoặc dịch vụ có thể cách mạng hóa thế giới. Steve Jobs của Apple, Inc là một ví dụ của một nhà lãnh đạo nhìn xa trông rộng “sáng tạo những sản phẩm của công ty rất nhiều phản ánh những hiểu biết thiết kế cá nhân và triết lý của mình. Điển hình như dự án của anh Trần Nguyễn Duy Tuấn - Airiot khắc phục được điểm yếu: quên tắt các thiết bị điện, giảm điện năng tiêu hao, chi phí cho con người bằng 15 phút lắp đặt, không cần đục tường và sản phẩm khá nhỏ gọn. Qua nghiên cứu, Tuấn và các cộng sự thấy rằng không chỉ ở nước ngoài mà cả Việt Nam, vấn đề điện năng luôn quan trọng và luôn tạo ra một vòng tròn lặp lại. Vì vậy, giải pháp giảm thiểu luôn thôi thúc các thành viên của Airiot. Họ đã mất khoảng 4 năm để hiện thực hóa ý tưởng. Và chỉ có sự tư duy sáng tạo mới khiến xã hội thúc đẩy phát triển không ngừng, vươn lên mạnh mẽ. Họ sáng tạo trong cách chủ động thực hiện nhiệm vụ của mình, tích cực đưa ra ý tưởng và luôn hướng ý tưởng đến những miền đất tươi tốt, đối với mỗi nhiệm vụ họ đều hướng đến sự sáng tạo chứ không dập khuôn. Đó là những người được đánh giá rất cao trong xã hội về cả năng lực và trình độ. Tuy vậy, vẫn còn tồn tại không ít người cực kỳ thụ động, không hề có ý thức về sự sáng tạo, họ chấp nhận những cái đã có sẵn, sống theo khuôn mẫu và chỉ hướng đến một cuộc đời bình lặng. Steve Jobs phát biểu: “Đôi khi bạn sẽ mắc sai lầm khi sáng tạo. Điều quan trọng là phải nhanh chóng thừa nhận nó và tiếp tục phấn đấu
Xem chi tiết tại link: https://ybox.vn/idyzni53hdnffd
Tên bài viết: Làm Thế Nào Anh Biết Anh Là Một Con Người - Con Người Thực Thụ?
Tác Giả: Lê Thị Khánh Linh
----------------------
Gửi bài viết của bạn để có cơ hội nhận giải thưởng trị giá +22,000,000 VND. Xem chi tiết tại: http://bit.ly/TrietHocTuoiTre-Info
(*) Bản quyền bài viết thuộc về Cuộc thi Triết học Tuổi trẻ do Ybox đồng sáng lập và tổ chức. Khi chia sẻ, cần phải trích dẫn nguồn đầy đủ tên tác giả và nguồn là ""Tên tác giả - Nguồn: Triết Học Tuổi Trẻ"". Các bài viết trích nguồn không đầy đủ cú pháp đều không được chấp nhận và phải gỡ bỏ."

Thứ Bảy, 23 tháng 3, 2024

Chủ nghĩa nhân đạo trong văn học

 Biểu hiện của chủ nghĩa nhân đạo rất đa dạng, là toàn bộ những tư tưởng, quan điểm quý trọng các giá trị của con người, nhưng trong văn học có thể phân ra bốn biểu hiện chính, đó là: thông cảm, thấu hiểu cho số phận con người; khám phá và tôn vinh vẻ đẹp con người; tố cáo, phê phán những thế lực chà đạp lên con người; nâng niu ước mơ của con người hay mở ra một tương lai tươi sáng cho con người.

1. THÔNG CẢM, THƯƠNG XÓT CHO SỐ PHẬN ĐAU KHỔ CỦA CON NGƯỜI
Chủ nghĩa nhân đạo trước hết bắt đầu tự sự thương yêu con người, mà hạt nhân của nó chính là trái tim giàu lòng yêu thương của nhà văn. Balzac đã từng nói: “nhà văn là thư kí trung thành của thời đại”, Nam Cao thì nói: “sống đã, rồi hãy viết, hãy hòa mình vào cuộc sống của quần chúng nhân dân”, Enxa Triole: “Nhà văn là người cho máu”. Đúng như vậy, quá trình sáng tạo là một quá trình gian khổ và quang vinh, đòi hỏi mỗi nhà văn phải dốc toàn bộ mồ hôi, nước mắt, thậm chí là máu của mình, dốc hết bầu máu nóng trong tim để giao cảm với đời, mở rộng tâm hồn để đón nhận những vang vọng tha thiết của cuộc đời. Hơn ai hết họ đã khóc với những nỗi đau của thời đại, đã mỉm cười cùng nỗi hân hoan của thời đại, và hơn ai hết họ hiểu thấu những ước mơ tha thiết, những khát khao cháy bỏng của con người thời đại. Mỗi nhà văn, trong quá trình sáng tác, trước hết phải là “nhà nhân đạo” từ trong cốt tủy“(Sêkhov). Bởi nếu không phải nhà nhân đạo, nếu không có tấm lòng yêu thương con người và sẵn sàng hy sinh cho con người, thì làm sao anh ta có thể viết, làm sao anh ta có thể, như loài phượng hoàng lửa trong truyền thuyết, trầm mình vào lửa đỏ để làm nên sự hồi sinh của cuộc sống – chính là những tác phẩm thẫm đẫm tính nhân đạo, thấm đẫm tình yêu thương con người, những tác phẩm như phập phồng hơi thở của thời đại, như đang chảy trong từng vân chữ những giọt máu của thời đại. Những tác phẩm mà, mỗi trang giấy là một số phận được trải ra trước mắt người đọc, từng số phận là những tiếng kêu khóc đau đớn cho những kiếp người, từng con chữ cất lên đều ám ảnh, day dứt khôn nguôi.
Như vậy chúng ta thấy rằng, biểu hiện trước tiên của chủ nghĩa nhân đạo chính là sự thông cảm, thấu hiểu cho số phận con người. Điều này có ý nghĩa giáo dục rất sâu sắc. Như nhà văn Nam Cao đã từng nhận xét, tác phẩm văn học chân chính là tác phẩm văn học làm cho con người “gần người hơn”. Người đọc tìm đến tác phẩm văn học với nhiều mục đích, nhưng cao cả hơn cả vẫn là để thanh lọc tâm hồn, để tâm hồn mình phong phú hơn, trong sạch hơn. Đến với những số phận gửi gắm trong văn học, họ được sống nhiều hơn, được trải nghiệm nhiều hơn, nhưng hơn cả là, họ được xúc cảm nhiều hơn, suy tư nhiều hơn, họ được khóc với nỗi đau của đồng loại, được reo vui với niềm vui của đồng loại. Văn học giúp cho trái tim mỗi con người trở nên nhạy cảm hơn, bao dung hơn, nhân hậu hơn. Chủ nghĩa nhân đạo không chỉ là những tư tưởng, quan điểm tôn vinh cái đẹp của con người, mà hơn hết, chủ nghĩa nhân đạo chính là sự tạo dựng nên cái đẹp trong tâm hồn của con người, mà ở trong trường hợp này, chính là người đọc. Quá trình thanh lọc tâm hồn này của người đọc là quá trình tự ý thức, từ đồng cảm, thương xót cho đồng loại mà bồi đắp, luyện rèn lên những giá trị trong tâm hồn mình (lòng nhân hậu, lòng nhân ái…). Như vậy chúng ta thấy, nhờ có chủ nghĩa nhân đạo, văn học không chỉ phát hiện hạt ngọc ẩn giấu trong tâm hồn người, mà còn giúp cho hạt ngọt ấy sáng hơn, đẹp hơn, và gieo vào từng tâm hồn những hạt ngọc long lanh, sáng ngời.
2. TRÂN TRỌNG, TÔN VINH VẺ ĐẸP CỦA CON NGƯỜI
Đối tượng phản ánh của văn học chính là con người, Maxim Gorki từng nói: “Văn học là nhân học”, còn với Nguyễn Minh Châu thì: “cuộc đời và nghệ thuật là hai vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm chính là con người”. Văn học không thể không phản ánh con người. Nhưng vấn đề là, phản ánh con người ở phương diện nào, và phản ánh con người như thế nào?
Văn học quan tâm đến con người trên phương diện xã hội, văn học, thông qua các mối quan hệ xã hội để dựng nên hình tượng con người như những tính cách, đó là con người đạo đức, con người chính trị, con người tâm trạng, con người hành động v.v. Nhưng quá trình phản ánh con người này cũng không hề giản đơn, khuôn mẫu, loại bỏ những chỉ tiết để khái quát thành những định lí, định đề, những quy tắc, chuẩn mực như lịch sử, triết học, đạo đức học. Văn học phản ánh con người vừa trực quan vừa khách quan, một mặt miêu tả con người sống động như chính nó trong đời sống, mặt khác lại nhìn nó với cái nhìn thấm đẫm sự cảm thông, yêu thương – cái nhìn đậm chất nhân đạo của người nghệ sĩ. Hình tượng con người trong văn học luôn là sự tổng hòa của cái chung và cái riêng, cái khái quát và cái cụ thể, cái chủ quan và cái khách quan, nó là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là con người sống động của hiện thực dưới cái nhìn giáu tình cảm, giàu sự thấu hiểu của người nghệ sĩ. Nhưng điều khác biệt cơ bản nhất giữa văn học và các ngành khoa học xã hội khác đó chính là sự phản ánh con người trên phương diện cái đẹp. Dovtopxki từng nói: “Cái đẹp cứu chuộc thế giới”. Đúng như vậy, muôn đời, văn học nghệ thuật chân chính là văn học “tôn vinh con người”.
Văn học là sản phẩm của quá trình sáng tạo theo quy luật của cái đẹp, con người trong văn học cũng chính là con người được sáng tạo theo quy luật của cái đẹp. Con người bước vào văn học với nhiều vẻ đẹp rất đa dạng. Đó có thể là nhan sắc tuyệt mỹ của nàng Kiều “hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”, đó có thể là cái đẹp tài năng như của người nghệ sĩ Vũ Như Tô khi xây Cửu Trùng Đài, có thể “điều khiển gạch đã như người tướng khiến bỉnh”, có thể xây lên những công trình tranh tài cùng hóa công. Nhưng văn học, quan tâm nhất vẫn là vẻ đẹp tâm hồn của con người, nhiệm vụ hàng đầu của văn học vẫn là tìm kiếm hạt ngọc ẩn giấu trong tâm hồn con người. Quá trình tìm kiếm vẻ đẹp ấy đòi hỏi rất nhiều công sức, trí tuệ, tình cảm của người cầm bút. Người nghệ sĩ trước hết phải là những con người biết dấn thân, biết đạp lên những định kiến cố hữu của con người và xã hội để nhìn con người một cách người nhát. Nam Cao, để khám phá được khao khát sống trong Chí Phèo, đã phải cùng nhân vật của mình quằn quại trong cuộc lột xác đầy đau đớn từ một con quỷ thành một con người, để làm nên từng trang văn dữ dội như lửa cháy, đồng thời, nhà văn tài ba ấy cũng phải đạp lên những định kiến của người đời, phải tách rời khỏi những kẻ nhìn Chí Phèo như quỷ dữ, để nhìn anh như một con người. Chỉ ở góc nhìn đó, nhà văn mới có thể đau đớn đến tận cùng cùng với nỗi đau của nhân vật, mới có thể từ cùng cực của bi kịch gạn lọc nên viên ngọc tươi trong: khát khao sống, khát khao lương thiện của một con người.
Có thể nói quá trình tìm kiếm hạt ngọc trong tâm hồn con người là quá trình khó khăn nhất. Bởi con người là một thực thể phức tạp, tâm hồn con người vốn là một mảnh đất hãy còn bị phủ bởi lớp sương mờ kín. Con người ta cũng chẳng thể hiểu được chính bản thân mình, thì làm sao người khác có thể hiểu kín kẽ, cùng tận? Để khám phá được những vẻ đẹp bên trong của con người, cần đến những tài năng thật sự. Mỗi nhà văn trong cuộc ngụp lặn vào thế giới sâu kín của tâm hồn với những biến thái tinh vi, phức tạp, phải có một sự nhạy cảm thiên bẩm và một trái tim hừng hực yêu thương. Đôi mắt của anh ta phải là đôi mắt tinh tường, đôi mắt xuyên thấu, đôi mắt thấu hiểu, anh ta phải nhìn thấy được từ những biểu hiện bên ngoài nhỏ nhất của con người những biến động tinh vi của tâm hồn bên trong, và anh ta phải biết cách tạo cho những phát hiện của mình một hình hài sắc vóc tương xứng – lớp ngôn từ nghệ thuật sinh động, hấp dẫn.
3. TỐ CÁO, PHÊ PHÁN CÁC THẾ LỰC CHÀ ĐẠP LÊN CON NGƯỜI
Văn học đồng cảm, xót xa cho số phận của con người, văn học trân trọng, tôn vinh vẻ đẹp của con người, thì văn học cũng tố cáo, phê phán những thế lực chà đạp lên con người. Quá trình đồng cảm, quý trọng con người và quá trình tố cáo, phê phán những thế lực chà đạp lên con người là hai mặt của một đồng xu, luôn đi liền với nhau, có mối quan hệ mang tính biện chứng. Càng đồng cảm, xót xa cho số phận con người, sẽ càng căm ghét, phẫn nộ với những thế lực đày đọa con người. Càng trân trọng, nâng niu vẻ đẹp của con người, sẽ càng khinh ghét, kinh tởm những thế lực chà đạp, làm vấy bẩn vẻ đẹp ấy.
Chủ nghĩa nhân đạo, do vậy, không chỉ là sự nâng niu trân trọng những vẻ đẹp của con người, mà còn muốn biến văn học thành một thứ vũ khí đấu tranh cho quyền sống của con người. Một khía cạnh không thể không nhắc đến của chủ nghĩa nhân đạo chính là tính chiến đấu rất cao của nó. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhắn nhủ với các nghệ sĩ: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận/Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy.”
Phương thức chiến đấu của văn học là sự phản ánh, bóc trần, là sự tố cáo. Đỉnh cao của tính chiến đấu chính là bút pháp trào phúng. Nhưng văn học, ngay cả khi không sáng tác bằng bút pháp trào phúng, cũng có tính chiến đấu nhất định của nó. Bản thân sự phản ánh của văn học đã có ý nghĩa riêng của nó. Văn học phản ánh cái xấu xa, cái tàn nhẫn, cái vô nhân, cái giả dối, bao giờ cũng đặt nó trong đối sánh với cái tốt đẹp, cái lương thiện, cái nhân hậu, cái chân thật. Nhà văn Nguyễn Khải từng nói: “"Văn chương có quyên nhưng không chỉ miêu tả cái xấu xa ghê tởm, hèn nhát. Thanh nam châm thu hút mọi thế hệ văn là cái cao thượng, cái tốt đẹp, cái thủy chung". Văn học nghệ thuật, dù là trong văn học dân gian hay văn học hiện đại, vẫn luôn tồn tại sự phản ánh thiện – ác, tốt – xấu, thật – giả trong sự đối chiếu, so sánh này, cũng ví như thiện – ác, tốt – xấu, thật – giả trong đời sống luôn song hành, giao tranh dữ dội để loại trừ lẫn nhau vậy. Nhiệm vụ muôn đời của văn học chính là tô đậm cái xấu, phát giác cái xấu để con người có thể nhận biết nó, và từ từ hình thành trong con người sự căm ghét cái xấu xa, cái đê hèn, cái giả dối. Quá trình này luôn phải diễn ra song song với quá trình tôn vinh cái tốt, căm ghét cái xấu xa, cái đê hèn, cái giả dối cũng chính là nâng niu, quý trọng cái tốt đẹp, cái cao cả, cái chân thật.
Để làm được điều này, người nghệ sĩ đồng thời cũng phải là người chiến sĩ, và đòi hỏi đầu tiên của họ chính là sự dũng cảm. Như nhà văn vĩ đại, người phản biện duy nhất của văn học Xô Viết, đồng thời cũng là người có số phận đầy đau đớn, Mikhail Bulgakhov đã từng tâm niệm, nhà văn là không có quyền im lặng. Một nhà văn dốc bầu máu nóng để yêu thương con người, để lòng mình lắng lại với những nỗi đau đời đau người tha thiết, là nhà văn không thể câm lặng trước cường quyền, trước bạo lực, trước tàn nhẫn, là nhà văn không thể thản nhiên khi nhìn thấy con người bị chà đạp, bị vùi dập, là nhà văn không thể câm lặng trước giọt nước mắt của con người! Ngôn từ chính là vũ khí, trí tuệ chính là vũ khí, tình cảm chân chính chính là vũ khí – những nhà văn chân chính từ bao đời nay vẫn chiến đấu cho cuộc sống của con người như thế. Họ chính là những nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn, là những nghệ sĩ vĩ đại.
4. THẤU HIỂU, NÂNG NIU ƯỚC MƠ CỦA CON NGƯỜI
Theo quy luật của quá trình sáng tạo, điểm đến cuối cùng của văn học bao giờ cũng là cuộc đời. Tố Hữu từng nói: “Cuộc đời là điểm khởi đầu và là điểm đi tới của văn chương” . Tác phẩm không kết thúc khi trang sáng đóng lại, mà đó là lúc tác phẩm mở ra, để bước vào cuộc đời, để cải tạo cuộc đời. Tác phẩm nghệ thuật có sức sống lâu dài phải là tác phẩm có ích cho xã hội. Thế nào là có ích? Đó là tác phẩm phải làm con người trở nên tốt đẹp hơn, phải thông qua mỗi con người để “dùng lực lượng vật chất đánh đổ lực lượng vật chất”, để cải tạo và làm cuộc sống tươi đẹp hơn, đáng sống hơn.
Để thực hiện được nhiệm vụ cao cả của văn chương, trước hết mỗi nhà văn phải là một nhà tư tưởng. Đỉnh cao nhất của mỗi tác phẩm chính là thông điệp tư tưởng của nó. Qua tác phẩm của mình, nhà văn phải bày tỏ quan điểm của mình về một vấn đề nào đó trong cuộc sống, đóng góp một giải pháp, hoặc chí ít, phải gợi ra được những vấn đề cấp thiết của xã hội và khiến chúng ám ảnh người đọc, lôi kéo người đọc vào quá trình suy nghĩ trăn trở của nhà văn, đối thoại cùng nhà văn để xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn. Nhà văn Ý Claudio Magrid đã từng nói: “Văn chương không cần những câu trả lời mà nhà văn đem lại, văn chương chỉ cần những câu hỏi mà nhà văn đặt ra, mà những câu hỏi này, luôn rộng hơn bất kì câu trả lời tường tận, cặn kẽ nào”.
Việc đưa ra giải pháp của mình cho các vấn đề của cuộc sống không gì trực quan hơn là thông qua tác phẩm, thông qua số phận nhân vật. Đó là lúc văn học có những nhân vật có tương lai tươi sáng, có những hành động dũng cảm thay đổi nghịch cảnh, để cứu chính bản thân mình. Văn học chúng ta đã có cả một thời kì sáng tác theo khuynh hướng hiện thực xã hội chủ nghĩa với Mỵ, với Tràng… họ đề là những nhân vật điển hình của phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa, đều là những con người, hoặc có những hành động táo bạo để thay đổi số phận, hoặc có sự thức tỉnh cần thiết tất yếu sẽ dẫn đến những hành động thay đổi số phận. Chúng ta cũng có cả một thời kì văn học khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn cách mạng với cái nhìn lạc quan hướng về tương lai tươi sáng mang âm hưởng anh hùng ca hào hùng của thời đại. Những hình tượng nhân vật có cái nhìn về tương lai tươi sáng, rộng mở, chính là những minh chứng cụ thể nhất cho cái nhìn của chủ nghĩa nhân đạo: cái nhìn lạc quan hướng đến tương lai, hướng về một cuộc sống xán lan, đầy hứa hẹn.
Tuy vậy, văn học không bao giờ là loa phát ngôn tư tưởng của nhà văn, nhân vật bao giờ cũng có những sự vận động nội tại riêng của nó, chịu sự chi phối của các quy luật khách quan của thời đại, chịu sự chi phối của sự vận động khách quan của lịch sử. Hay nói cách khác, có những nhân vật, đặt trong thời đại sống của mình, không bao giờ có thể có được một cái kết có tương lai tươi sáng. Solokhov không mong muốn Grigori trong “Sông đông êm đềm” có số phận bi kịch đau khổ đến tận cùng, mất hết tất cả, gia đình, cuộc sống và hoàn toàn lạc lối, nhưng thời đại của nhân vật không cho phép nhân vật có cái két khác đi. Cái gọi là chủ nghĩa hiện thực nghiêm nhặt không nằm ở chỗ đẩy nhân vật vào tận cùng bi kịch, tạo cho nhân vật cái kết đau đớn bi thảm cùng cực, mà nó nằm ở chỗ, vì nhà văn tôn trọng sự vận động của hiện thực khách quan nên không thể không phản ánh nó một cách chân xác (dù nó dẫn đến những tấn bi kịch đầy đâu đớn).
Nhưng vấn đề đặt ra là, liệu rằng khi chịu sự chi phối của chủ nghĩa hiện thực nghiêm nhặt như vậy, liệu rằng nhà văn ấy có thể trở thành nhà nhân đạo chủ nghĩa?
Khi hoàn cảnh không thể cho nhân vật một tương lai tươi sáng, một cái nhìn lạc quan vào tương lai, thì nhà văn vẫn phải có một cái nhìn vào tương lai, với một niềm mong mỏi vào một sự thay đổi. Đó chính là sự khám phá ra những ước mơ của con người và kêu gọi sự thay đổi để con người có thể thực hiện được ước mơ của mình, để có thể sống người nhất. Bi kịch vỡ mộng và bi kịch tinh thần của Hộ trong “Đời thừa” của Nam Cao là tấn bi kịch không có lối thoát. Dù nhân vật có thức tỉnh thế nào, một khi hoàn cảnh không thay đổi, một khi anh ta còn là “kiếp người bị cơm áo ghì sát đất” thì tấn bi kịch của anh ta sẽ còn tiếp diễn, thậm chí sẽ phát triển theo hình xoắn ốc, lặp lại và ngày một tồi tệ hơn, để rồi cái đỉnh của nó sẽ là cái chết của anh ta: sự tha hóa tận cùng của nhân cách. Chủ nghĩa hiện thực phê phán không thể vượt qua những hạn chế nhận thức của chính thời đại mình, nó xem con người là nạn nhân của hoàn cảnh, chính vì vậy con người luôn bế tắc, bi kịch. Nhưng như vậy không có nghĩa Nam Cao không phải là nhà nhân đạo chủ nghĩa. Cái nhân đạo của nhà văn thể hiện ở chỗ, nhà văn đã khám phá ra được những ước mơ tốt đẹp của văn sĩ Hộ, đó là ước vọng sáng tạo nghệ thuật chân chính của một người nghệ sĩ đam mê, ước muốn có một tác phẩm “vượt qua mọi bờ cõi và giới hạn” để trở thành tác phẩm chung cho loài người. Cái nhân đạo của Nam Cao còn ở bức thông điệp dội vào cuộc sống: Cuộc sống cần phải thay đổi, để mỗi con người có hoài bão, có ước mơ được sống đúng với hoài bão và ước mơ của mình, để được sống và cống hiến, sống trở thành con người có ích cho xã hội, chứ không phải là những con người đau đớn, những kiếp sống mòn, ngày ngày nhìn ước mơ của mình đổ vỡ, và bản thân mình thì dẫn tha hóa, trở thành kẻ tồi tệ, giày vò hành hạ những người yêu thương của mình.
Như vậy, dù nhà văn có đứng ở điểm nhìn nào, dù anh ta chịu sự chi phối của thi pháp nào, dù anh ta có thể mang đến tương lai tươi sáng cho nhân vật hay không, chỉ cần anh ta còn hiểu được những ước vọng hướng về tương lai của con người, chỉ cần bản thân anh ta cũng có cái nhìn hướng về tương lai và đấu tranh cho tương lai tốt đẹp, tươi sáng của con người, thì anh ta chính là nhà nhân đạo chủ nghĩa.