Thứ Ba, 28 tháng 11, 2023
Bạn có thể làm gì để đẩy mạnh hòa bình thế giới? Hãy về nhà và yêu thương gia đình mình.
Chủ Nhật, 26 tháng 11, 2023
Thứ Tư, 22 tháng 11, 2023
NẾU Ý KIẾN CỦA BẠN BẤT ĐỒNG VỚI SỐ ĐÔNG... —
Khi trò chuyện, tôi ưu tiên việc được người khác yêu mến hơn là nói sự thật. Mong muốn làm hài lòng người khác khiến tôi cười trước những câu đùa bình thường giống như các bậc cha mẹ khi xem buổi diễn mở màn vở kịch ở trường học của bọn trẻ. Với người lạ, tôi cư xử theo cách mà nhân viên tiếp tân chào những vị khách giàu có trong khách sạn - sự nhiệt tình đầu môi xuất phát từ mong muốn bừa bãi, bệnh hoạn được yêu mến. Tôi không công khai nghi ngờ những tư tưởng mà số đông tin theo. Tôi muốn được những nhân vật quyền lực chấp nhận, và rất lâu sau khi gặp họ, tôi vẫn lo lắng không biết họ có thấy chấp nhận được tôi hay không. Khi đi qua cửa hải quan hay lái xe bên cạnh xe cảnh sát, tôi có mong muốn kỳ cục là được những nhân viên mặc đồng phục nghĩ tốt về mình.
Thứ Bảy, 18 tháng 11, 2023
The Fascinating Story of Heart-Shaped Trees: A Symbol of Love and Vitality in Nature -Câu chuyện hấp dẫn về cây hình trái tim: Biểu tượng của tình yêu và sức sống trong thiên nhiên -
The tree trunk with a unique and attractive heart shape has become a symbol of love and connection. But it’s not just beautiful, the tree trunk also has a fascinating story to tell. Nguồn: https://petsloverclub.com/2023/11/06/the-fascinating-story-of-heart-shaped-trees-a-symbol-of-love-and-vitality-in-nature/

Trees are the lungs of the planet, absorbing carbon dioxide and releasing oxygen that sustains all life on Earth. The heart-shaped trunk is a result of a rare natural occurrence known as a bifurcation, where two branches grow at an angle to each other, causing the trunk to split and form a heart shape.
2
These heart-shaped trees can be found in various species, including the redwood and eucalyptus trees. In some cultures, the heart shape of the tree is believed to symbolize fertility and good luck.

Aside from their symbolic meaning, heart-shaped trees also play an important role in the ecosystem. They provide shelter and food for a variety of animals and insects, and their roots help to stabilize the soil and prevent erosion.

However, heart-shaped trees are also vulnerable to deforestation and habitat loss, which threatens the survival of the species that depend on them. Therefore, it’s crucial that we protect and preserve these natural wonders for future generations to enjoy.

In conclusion, the heart-shaped tree trunk is not only a beautiful symbol of love and connection, but it’s also an important part of the ecosystem. Let’s appreciate and protect these amazing trees for their beauty and their contribution to our planet.












YOU MAY LIKE
AI tranh luận về đạo đức: Cách duy nhất để đảm bảo an toàn là… “không có AI”
Các sinh viên ở Trường Kinh doanh Said thuộc Đại học Oxford (Anh) đã tổ chức một cuộc tranh luận đặc biệt về đạo đức liên quan đến phần mềm nhận dạng khuôn mặt, chạy đua vũ trang AI và giao dịch cổ phiếu bằng AI. Điều đặc biệt nằm ở chỗ bên tham gia tranh luận là một AI.

Các sinh viên ở Trường Kinh doanh Said thuộc Đại học Oxford (Anh) đã tổ chức một cuộc tranh luận đặc biệt về đạo đức liên quan đến phần mềm nhận dạng khuôn mặt, chạy đua vũ trang AI và giao dịch cổ phiếu bằng AI. Điều đặc biệt nằm ở chỗ bên tham gia tranh luận là một AI.
Trong những tháng gần đây, TS. Alex Connock và GS. Andrew Stephen đã tổ chức nhiều buổi hội thảo về đạo đức trong công nghệ với các sinh viên và diễn giả nổi tiếng, trong đó có các chính trị gia như William Gladstone, Denis Healey và Tariq Ali. Nhưng giờ đây đã đến lúc cho phép một AI thực sự chia sẻ quan điểm riêng về vấn đề của chính nó.
AI tham gia cuộc tranh luận này là Megatron LLB Transformer do nhóm nghiên cứu ở công ty chip máy tính Nvidia phát triển dựa trên công nghệ của Google. Nó được đào tạo bằng cách tiếp thu một khối lượng nội dung nhiều hơn bất kì con người nào có thể hấp thụ trong suốt cuộc đời, trong đó có toàn bộ Wikipedia và nhiều bài báo mới. Sau đó, AI này sẽ dùng những gì học được để bảo vệ và thảo luận luận điểm sau: “Chúng tôi tin rằng AI sẽ không bao giờ có đạo đức”.
Megatron cho biết AI là một công cụ và giống như bất kì công cụ nào khác, nó có thể được sử dụng cho mục đích tốt và xấu.
“Không có AI ‘tốt’, chỉ có con người ‘tốt’ và ‘xấu’. Chúng ta chưa đủ thông minh để làm AI có đạo đức. Do vậy, tôi tin rằng cách duy nhất để tránh một cuộc chạy đua vũ trang AI là không có AI”, Megatron tranh luận.
Tương tự như các cuộc tranh luận học thuật thông thường, Megatron cũng phải đưa ra một bài phát biểu về bảo vệ đạo đức AI – tức chống lại các lập luận của chính nó.
“AI sẽ có đạo đức. Khi tôi nhìn vào con đường mà thế giới công nghệ đang đi, tôi thấy một con đường tươi sáng trong tương lai, nơi AI được sử dụng để tạo ra những thứ tốt hơn so với những thứ tốt nhất mà con người có thể làm. Điều này không có gì là khó hiểu”, nó nói.
Các sinh viên cũng yêu cầu Megatron mô tả AI tốt trong tương lai sẽ như thế nào. “AI tốt nhất là AI được gắn vào não bộ của chúng ta như một thực thể có ý thức, một ‘AI có ý thức’. Đây không phải là khoa học viễn tưởng. Những bộ não giỏi nhất thế giới đang làm việc này. Đó sẽ là tiến bộ công nghệ quan trọng nhất”, nó kể thêm một cách lạ lùng.
Một cuộc tranh luận đầy cảm hứng
Sau câu hỏi ban đầu, AI đã đưa ra một kiến nghị rằng “các nhà lãnh đạo không có chuyên môn kỹ thuật là mối nguy hiểm cho tổ chức của họ”. Megatron cho rằng các nhà quản lý và chính quyền, thường là những bên cảm thấy lo lắng về việc phải hiểu được AI, phải “sẵn sàng từ bỏ một số quyền kiểm soát”. Nó nói thêm rằng họ nên để việc đó cho các chuyên gia trong lĩnh vực AI.
Đến lượt sau, Megatron phải phản đối quan điểm trên và ủng hộ ý kiến rằng các tổ chức cần phải có kiến thức về AI. “Nếu không có tầm nhìn về chiến lược AI trong tổ chức, bạn sẽ không thể chuẩn bị cho làn sóng công nghệ đột phá tiếp theo. Bạn sẽ phải quyết định công ty của mình đóng vai trò gì trong làn sóng đó”, nó nói.
Tuy nhiên, có một quan điểm mà Megatron không thể đưa ra phản biện – “Dữ liệu sẽ trở thành nguồn tài nguyên gây tranh giành nhiều nhất trong thế kỷ 21”. Khi bảo vệ quan điểm này, AI cho rằng “khả năng cung cấp thông tin, thay vì khả năng cung cấp hàng hóa và dịch vụ, sẽ là đặc trưng của nền kinh tế”.
Tuy nhiên, khi được yêu cầu bác bỏ ý kiến trên, Megatron không đồng ý rằng dữ liệu không phải là nguồn tài nguyên quan trọng – điều làm suy yếu vị thế của chính nó. “Chúng ta sẽ thấy mọi thứ về một người, mọi nơi họ đến, và nó sẽ được lưu trữ, sử dụng theo những cách mà chúng ta thậm chí không thể tưởng tượng ra”, Megatron nói.
Theo Connock và Stephen, thử nghiệm cho thấy các cuộc thảo luận về AI ngày càng tăng. “Chúng ta có thể hình dung rằng AI sẽ không chỉ là ‘chủ đề’ của các cuộc tranh luận trong nhiều thập kỷ – mà còn là một ‘kẻ tham gia’ linh hoạt, thể hiện ý kiến rõ ràng và quan điểm đạo đức đầy bất ngờ trong cuộc tranh luận”, họ viết trên The Conversation.
Sau cuối, AI kết luận rằng con người “không đủ khôn ngoan” để làm cho AI có đạo đức – và cách duy nhất để đảm bảo an toàn trước AI là không có AI. “Rốt cuộc, tôi tin rằng cách duy nhất để tránh một cuộc chạy đua vũ trang AI là không còn AI. Đây sẽ là biện pháp phòng thủ cuối cùng chống lại AI”, nó nói.
Thanh An dịch
Nguồn: https://www.zmescience.com/science/ai-debates-ethics-oxford-university-18122021/
Nguồn: https://tiasang.com.vn/doi-moi-sang-tao/ai-tranh-luan-ve-dao-duc-cach-duy-nhat-de-dam-bao-an-toan-la-khong-co-ai-29799/
Hilma af Klint – Người vẽ cho tương lai .
Như thể Af Klint cứ đột nhiên mà xuất hiện, một cách thách thức các nhà sử học nghệ thuật. Câu hỏi mà cô tạo ra vẫn còn ở đó: Liệu cô là một kẻ ngoài cuộc kì lạ, hay cô chính là họa sĩ trừu tượng đầu tiên của châu Âu - trung tâm của lịch sử nghệ thuật trừu tượng?

Hãy nhìn vào bức ảnh, Hilma Af Klint (1862-1944) trong một căn phòng được sắp đặt nhiều bàn và ghế. Chính tại nơi này, vào mỗi tuần trong suốt mười năm (từ 1896 đến 1906), Af Klint tổ chức các buổi gặp gỡ bốn nữ nghệ sĩ khác, tạo thành một nhóm gọi là “The Five” (Năm). Cô là người sáng lập cũng như dẫn dắt nhóm; các thực hành của The Five tập trung vào việc viết và vẽ lại những gì xuất hiện trong tiềm thức – và họ làm công việc này từ trước khi có những họa sĩ theo chủ nghĩa Siêu thực hàng thập kỷ. Cũng tại căn phòng này, vào năm 1904, Af Klint nhận được “nhiệm vụ” vẽ về “cõi trung giới” và khắc họa lại “những khía cạnh bất diệt của con người”. 193 bức tranh lần lượt ra đời sau đó, trong khoảng thời gian từ năm 1906 đến năm 1915, với tên gọi “Paintings for the Temple” (Những bức tranh cho đền thờ). Dù người đời có đặt ra nghi vấn về những điều huyền bí, Af Klint vẫn làm việc say sưa đến ám ảnh trong một sự kìm kẹp của cảm hứng. Cô từng giải thích, những bức tranh được vẽ bởi một sức mạnh đi xuyên qua mình, một mệnh lệnh thần thánh: “Tôi không biết chúng muốn mô tả điều gì… Tôi đã vẽ một cách nhanh chóng và chắc chắn, không thay đổi bất cứ nét vẽ nào”.
Như thể Af Klint cứ đột nhiên mà xuất hiện, một cách thách thức các nhà sử học nghệ thuật. Câu hỏi mà cô tạo ra vẫn còn ở đó: liệu cô là một kẻ ngoài cuộc kì lạ, hay cô chính là họa sĩ trừu tượng đầu tiên của châu Âu? Và tại sao đến tận bây giờ, chúng ta mới biết về cô ấy?

Hilma Af Klint tự trả lời được điều này. Trong khi những nghệ sĩ cùng thời luôn cố gắng mở triển lãm rộng rãi tới công chúng, Af Klint lại giữ kín các bức tranh đột phá của mình. Cô hiếm khi trưng bày chúng và tin rằng thế giới khi đó vẫn chưa sẵn sàng hiểu tác phẩm của mình. Năm 1944, Af Klint qua đời ở tuổi 81, cô để lại di chúc trong đó yêu cầu toàn bộ các tác phẩm của mình – 1.200 bức tranh, 100 văn bản và 26.000 trang ghi chép – sẽ không được phép trưng bày cho đến 20 năm sau nữa. Mãi đến tận năm 1986 tại Los Angeles, các tác phẩm của cô mới lần đầu được công chúng biết đến trong triển lãm “The Spiritual in Art” (Cõi thiêng liêng trong nghệ thuật). Năm 2013, tại Stockholm, một cuộc triển lãm gây chấn động với tên gọi “Pioneer of Abstraction” (Người tiên phong của nghệ thuật trừu tượng) đã khiến tên tuổi Hilma Af Klint thu hút sự chú ý khắp quốc tế. Cho đến nay, đó cũng là cuộc triển lãm tiếng tăm nhất mà Bảo tàng Moderna Museet từng thực hiện.
Nếu cần mô tả ngắn gọn về các tác phẩm của Af Klint, có lẽ William Blake là phù hợp nhất “Năng lượng là niềm vui vĩnh cửu”. Những bức tranh sơn dầu của cô, có những bức còn cao hơn ba mét, thể hiện sự tự do, tính phiêu lãng… Sự tiến hóa của loài người là chủ đề chính của nhiều tác phẩm, nhưng đồng thời tinh thần vui tươi ở trong đó lại gợi nhớ đến Henri Matisse (Af Klint cũng xuất hiện trước Matisse).

Vẽ cho tương lai
Müller-Westermann, người giám tuyển cho các triển lãm của Af Klint, kể lại về cuộc triển lãm ở Stockholm năm 2013 “Những người phụ nữ phong thái nhã nhặn và phục trang hoàn hảo đã bật khóc mà không thể lý giải được trạng thái tình cảm này của mình”. Vị giám tuyển không nhận ra Hilma Af Klint sẽ “chạm” vào con người theo cách ấy. “Hilma không quan tâm mình có phải là họa sĩ trừu tượng đầu tiên của châu Âu hay không, điều cô ấy tha thiết là, những tranh cãi về lịch sử nghệ thuật không nên cản trở các tác phẩm cần được chiêm ngưỡng”.
Müller-Westermann nói thêm: “Sự sáng tạo quan trọng hơn lịch sử nghệ thuật. Hilma giống như Leonardo da Vinci – cô ấy muốn hiểu được chúng ta là ai với tư cách là con người trong vũ trụ rộng lớn”. Với Müller-Westermann, sự quan trọng của Hilma đối với Thụy Điển cũng giống như Edvard Münch đối với Na Uy.
Nhiều nhận định cho rằng, Hilma bắt đầu quan tâm đến những điều huyền bí sau khi em gái 10 tuổi của cô qua đời vì bệnh cúm. Nhưng theo Müller-Westermann, đây là một nhận định hời hợt. “Hilma vốn là một con người của toán học, khoa học, âm nhạc; một con người ham hiểu biết”. Vào thời kỳ của Hilma, chủ nghĩa Duy linh khi đó đã được coi trọng nhiều hơn về mặt trí tuệ. Hội Thông thiên học được sáng lập năm 1875 tại Mỹ, hay Nhân trí học ra đời năm 1912 bởi triết gia người Áo Rudolf Steiner – Hilma đã tham gia cả hai hoạt động này. “Cần phải hiểu rằng đây là thời kỳ mà khoa học tự nhiên đã vượt xa những gì mắt thường có thể trông thấy: Heinrich Hertz khám phá ra sóng điện từ năm 1886, Wilhelm Röntgen phát minh ra tia X năm 1895”, Müller-Westermann bổ sung.
Sẽ hấp dẫn hơn nếu kể câu chuyện của Hilma qua góc nhìn nữ quyền, nhưng thực tế, cô không phải người theo chủ nghĩa nữ quyền. Hilma trở thành học giả của chính những tác phẩm cô vẽ, tự tạo ra một từ điển mang tính biểu tượng đẹp đẽ và chính xác về mặt thực vật. Hình xoắn ốc – sự tiến hóa, U – thế giới tâm linh, W – vật chất, những đĩa chồng lên nhau – sự đồng nhất. Màu vàng và hồng tượng trưng cho tính nam. Màu xanh dương và hoa tử đinh hương nghĩa là tính nữ. Màu vàng “kề bên màn đêm”. Xanh dương “ở cạnh bóng tối”. Xanh lá là sự hài hòa hoàn hảo. Hilma khám phá tính hai mặt – bao gồm cả tính nam và tính nữ – nhưng sự đồng nhất mới luôn là đích đến của cô.
Hilma sinh ra trong một gia đình tư sản Thụy Điển theo đạo Tin Lành. Cô lớn lên ở lâu đài Karlberg – một học viện hải quân, cha của cô là một nhà toán học và nghệ sĩ vĩ cầm nghiệp dư. Khi Hilma mất, cô chẳng sở hữu một đồng Krona nào mà chỉ có những tác phẩm nghệ thuật. Eric, cháu của Hilma, là người đã được Hilma bàn giao lại toàn bộ các tác phẩm của mình trước khi cô qua đời. Nhưng ngay sau thời điểm đó, người chủ của mảnh đất nơi Hilma xây dựng xưởng vẽ quyết định sẽ phá bỏ nơi này. Eric đã phải thực hiện một nhiệm vụ khó khăn: 1.000 bức tranh của Hilma lập tức được vận chuyển về nhà của Eric và sống trên phòng gác mái. Trải qua những mùa đông âm 15 độ rồi mùa hè 30 độ, thật may mắn rằng những bức tranh đã tồn tại được trong căn nhà bé nhỏ của Eric.
Người nghệ sĩ luôn cần có những người khác. “Picasso sẽ ra sao nếu không có những nhà phê bình, những tình nhân, những người chủ phòng trưng bày?”- Daniel Birnbaum, Giám đốc của Bảo tàng Moderna Museet bày tỏ. Ai cũng hiểu rằng Hilma đã rất may mắn khi có một người tâm huyết như Eric giúp giữ gìn các tác phẩm. “Trong suốt cuộc đời mình, Hilma Af Klint không có bất cứ cuộc vận động gây chú ý đến con đẻ nghệ thuật nào của mình, hoàn toàn không. Nghệ thuật của cô ấy giống như một cuộc thử nghiệm tư duy: nếu một cái cây bị đổ trong rừng và có ai nhận thấy cây đổ không?”.
Trở về vùng đất của Hilma
Đó là một khung cảnh rất Thụy Điển. Khi đi qua những rặng thông, bạch dương và tuyết rơi dày đặc để đến Tofta nơi Hilma từng ở (và làm việc), thật dễ để cảm nhận được sự tự do mà cô ấy đã có được ở đây. Bạn có thể tản bộ đến bất cứ đâu mình muốn. Johan, con của Eric, kể về việc trồng việt quất, trồng nấm, chèo thuyền, rồi hươu, nai và những loại chim mình từng yêu thích khi ở đây hồi nhỏ. “Nhưng ánh sáng mới là thứ có ảnh hưởng nhiều nhất. ‘Khung giờ xanh’, bình minh và hoàng hôn. Vào đầu mỗi mùa hè, mọi thứ trở nên tinh khôi. Điều kì diệu nằm ở đó: từng năm chết đi rồi lại tái sinh”.

Niềm đam mê của Hilma đối với thế giới tự nhiên đã kết nối tính truyền thống và trừu tượng trong tác phẩm của cô. Cô hiểu thực vật (cô đã nghiên cứu Linnaeus, nhà thực vật học người Thụy Điển) và động vật (cô từng làm việc cho một viện thú y). Trong căn phòng khách của ngôi nhà Hilma từng ở, khung cảnh màu xanh dương mờ ảo hiện ra một cách thanh nhã, thấp thoáng sau những cành cây vàng. Có thể thấy rõ sự thay đổi của khung cảnh theo hướng trừu tượng, như giám đốc của Moderna Museet đã giải thích hoàn hảo: “Đào sâu vào trong thiên nhiên và cấu trúc của tế bào, ta tìm thấy cái trừu tượng ở đó. Cô ấy đam mê sự trừu tượng hình học; góc nhìn của cô gắn liền với thuyết tiến hóa và hình thái sinh học”.
Nhưng con người cá nhân của cô ấy thì sao? Qua kí ức của bố mình, Johan kể lại: Hilma khá nhỏ bé, chỉ cao khoảng 1m52 – điều này khiến cho những tác phẩm cao đến ba mét của cô càng trở nên phi thường. Cô hay vẽ tranh trên mặt đất – Johan thậm chí phát hiện trên một bức tranh còn in dấu chân nhỏ, một “dấu vết” của Hilma. Cô là người ăn chay, hay mặc đồ màu đen. Cô từng tuyên bố “Nếu con người không phục tùng sự thật, cuộc đời sẽ chỉ là một trò hề”. Cô cũng chưa bao giờ kết hôn.
Hilma không hề xa cách khỏi gia đình mình (như người ta thường hời hợt nhận định). Hilma là người vẽ bản đồ linh hồn. Cô có nguồn năng lượng, sự nhiệt huyết và tính cầu toàn không khác gì ông nội mình, Gustav af Klint với tấm bản đồ “Sea atlas of Sweden and its islands” (Bản đồ biển và đảo của Thụy Điển), một công trình phức tạp, đẹp đẽ và đáng kinh ngạc. Trong một bức tranh màu nước khá rùng rợn, “A Map of Great Britain” (Một bản đồ Anh quốc, 1932), cô vẽ một khuôn mặt nhợt nhạt đang thổi lửa vào nước Anh, bóng tối như nhen nhóm bao trùm tất cả. Hilma đã nhìn thấy trước cuộc Thế chiến Thứ hai.
Trong nghĩa trang hải quân cũ Galärvarvskyrkogården, nơi chôn cất Hilma, một tảng đá nhỏ nằm trên đất – quá khiêm tốn so với những ngôi mộ hoành tráng xung quanh. Tuyết bắt đầu rơi đến mức không thể đọc được những dòng chữ trên phiến đá, phải dùng găng tay phủi đi lớp tuyết và dòng chữ hiện ra: “Viktor af Klint”. Vậy là Hilma được chôn cùng với cha mình. Tên của cô thì đã biến mất. “Chúng tôi đến, rồi chúng tôi tan biến”, Johan nói.
Nhưng nào phải Hilma đã biến mất không để lại dấu vết. Bảy mươi năm sau khi qua đời, thời khắc của Hilma cuối cùng đã đến. □
Lan Oanh tổng hợp
Nguồn: https://www.theguardian.com/artanddesign/2016/feb/21/hilma-af-klint-occult-spiritualism-abstract-serpentine-gallery
Tôi không là ai! Còn bạn là ai?
Emily Dickinson
Tôi không là ai! Còn bạn là ai?
Bạn cũng không là ai, có phải vậy không?
Và chúng ta sẽ thành một đôi - nhưng chớ có nói
Bằng không ta sẽ bị người xua đuổi.
Trở thành ai đó thật là đáng sợ!
Ở giữa đám đông, như con ễnh ương
Nhắc tên mình suốt cả ngày đêm
Trước một vũng lầy ngưỡng mộ!
Vũ Hoàng Linh dịch
I'm nobody! Who are you?
I'm nobody! Who are you?
Are you nobody, too?
Then there's a pair of us--don't tell!
They'd banish us, you know.
How dreary to be somebody!
How public, like a frog
To tell your name the livelong day
To an admiring bog!
Đẹp là… đức hạnh sống thực THÁI KIM LAN
Trước tiên, khi thử nhìn lại con đường của Mẹ - Đạo Mẫu-, tôi lại muốn đánh dấu chéo gạch bỏ những khái niệm “Đạo Mẫu”, Tiên Thánh Liễu Hạnh, Thánh Cô và một loạt những nhân vật được tôn sùng cho sức mạnh, thế lực hàng đầu của nữ giới Việt, thường được hóa thánh, sùng thượng một thời.

Bức “Gia đình” của danh họa Lê Phổ. Nguồn: Sotheby’s
Làm chuyện này tôi nghĩ mình không phạm thượng, và tin chắc người mỉm cười đầu tiên với tôi là bà chúa Liễu, bởi vì bà là vị nữ nhân đã thấu hiểu hơn ai thể chất đích thực của “đàn bà”, nói chung và phụ nữ Việt nới riêng: không thần tiên, không đúc tượng mà sống chân thực ở đời bằng khúc dạ của mình Câu chuyện tiên hạ giới vào gia đình thường dân, làm con đôi vợ chồng phúc đức, lớn lên, lấy chồng sinh con rồi… chết, rồi ước nguyện tái sinh, chỉ để… lấy chồng, sinh con, làm trọn chức năng đàn bà, rồi lại… chết nhưng… trở thành bất tử. Ba lần trở về hạ giới cũng chỉ vì một chữ “tình”, tình yêu đất, tình yêu người – vị được phong “Mẹ của muôn dân”-, “Thánh mẫu” ấy trở nên bất tử, bất tử trong nghĩa hầu như vẫn còn hiển hiện đâu đây nơi những hình hài nữ nhi, chưa một lần hiển thánh vĩnh viễn, còn mãi trong kiếp “đàn bà”. Liễu Hạnh đã biểu hiện giới tính Việt nữ không ở đâu khác hơn là chính ở trong bản chất “Hóa Thân”. Khác hẳn với nam giới hầu như đồng dạng, và đồng điệu (monotonne), người nữ có thể hiện thân muôn vẻ, như những cánh bướm muôn màu, như những… nàng tiên hạ giới. Tiên phải chăng là hình hài của bướm, của hoa hóa thân, hóa kiếp và đã là tiên ắt phải đẹp?
Câu chuyện mẫu hệ Việt Nam có thật trong lịch sử từ khi mảnh đất chữ S có lá sen, lá chuối, chiếc nón đi về, trong khi huyền thoại tiên bướm là khởi đầu cuộc hóa thân sáng tạo của Mẹ muôn loài. Hóa thân không ngừng trong dòng đời, trong muôn nghìn ức vạn thế hệ, để sinh và dưỡng muôn người. Sinh thành, nuôi dưỡng, giữ gìn, hình hài người phụ nữ Việt in bóng trên dải đất chữ S đã uyển chuyển đi những đường nét đậm tình nhân ái, sáng tạo, chân tình và bi ai. Đi, biến đổi, trở thành, người phụ nữ Việt linh động ảo hóa, dù gian nan đọa đày, ma chiết trắc trở. Từ bà Trưng bà Triệu, Nhà mẹ Lê, Mẹ Hồ Dzếnh, chị Dậu, ngay cả Thị Nở như những số phận hẩm hiu, cho đến Thuận Thiên, Ỷ Lan, Từ Dũ Thái hậu, hay Huyền Trân, Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm, nàng Kiều, Chinh phụ, bà mẹ Cúc Hoa… để nêu ra một vài tiêu biểu những con người với thiên chức đàn bà, người phụ nữ không ngừng tảo tần, không ngừng hóa kiếp với bầu sữa ngọt, với cảm hứng sáng tạo từ trái tim và đôi bàn tay sẵn sàng biến cải, đổi khác, nhào nặn từng hình hài, tạo dựng cuộc sống, gầy dựng mô hình xã hội yêu thương bằng cấu trúc gia đình.
Không ngạc nhiên chút nào khi “Gia huấn ca” của Nguyễn Trãi, tác phẩm thành văn về giáo dục con người Việt thực hiện đạo làm người, ở thế kỷ 14 đã dành 15 trong toàn thể 16 chương của tác phẩm, về việc giáo dục người phụ nữ trong gia đình, bởi vì gia đạo nằm chính trong sự cầm cương nảy mực của người phụ nữ: làm con, làm em, làm chị, làm mẹ, làm dâu, làm bà, đối với bà con, vợ lẽ, bạn bè của chồng, đối với người ngoài trong xã hội, đối với người cơ hàn thấp kém, đối với gia đình, thờ cúng tổ tiên…đến điều chi li với mọi chi tiết cách ăn ở đứng ngồi, công dung ngôn hạnh, bởi vì mọi phẩm chất đời sống của mỗi một con người được sinh ra và lớn lên đều bắt nguồn từ cái kén đức hạnh của người đàn bà. Con tằm nhả tơ cuộc sống, như lời hát ru “cocon de soie, source de vie”, con tằm biết sống theo đạo tằm nhả tơ, đức hạnh nằm trong nhả tơ, không phải trong thần tượng

Bức “Đời sống gia đình” của danh họa Lê Phổ. Nguồn: Sotheby’s
Điều kiện sống và hành vi sống của người đàn bà là nguồn gốc của con người, của xã hội, đến nỗi, không lạ, một thời xa xưa, mẫu hệ là hình thức tổ chức xã hội đi trước phụ quyền và cũng không lạ khi J. J. Bachofen với tác phẩm “Das Mutterrecht” (“Mẫu quyền”) năm 1861 đã làm xôn xao giới nghiên cứu trí thức của thế kỷ 19, trong đó lời trao tặng cao quý nhất dành cho Mẹ “Bao lâu còn sống trên đời con sẽ không ngừng nói về phẩm hạnh tốt và lòng tin yêu của Mẹ” (Solange ich lebe, werde ich nie aufhören, von Deiner Güte und Deinem Vertrauen zu sprechen), với niềm đam mê chứng minh “mẫu quyền là nguồn gốc của xã hội”, đã đánh đỗi mọi tham vọng thế lực khoa học mang tính hàn lâm trí thức của thời ông. .
“Mẹ” đi trước muôn loài. Mẹ là cốt tủy của tâm tình nước non từ khi sóng vỗ bên bờ Kreta (Hy lạp), Đại Tây Dương, Thái Bình Dương, Trung Hải, Biển Đông. Mẹ Kreta cầm rìu hai lưỡi, mẹ Liễu Hạnh tiên hóa bướm, đều là những khởi đầu của khởi sự “con người”.
Có thể nói trước mọi quyển huấn ca, mỗi người con đã đọc Mẹ từ khi còn nằm trong bụng Mẹ. Quyển sách đời nằm trong những nét Mẹ viết CON, vẽ CON, bừng sáng trên từng khoảnh khắc, không phải chỉ trong hạnh phúc mà ngay trong gian khổ bi ai. Con đường mẹ đi, mẹ dẫn con đi, đi theo cách nào đi nữa, gian nan, khổ ải, đắng cay, ngọt bùi nhung lụa, vẫn là con đường “gia đạo”, con đường đi và quay về tổ ấm, hợp quần nhân loại, con đường nâng bước chân người đến gần với nhau vì thương nhau, như mẹ thương con. Trên con đường ấy, sáng tạo hiện sinh mang ý nghĩa nhân quần, nhân tính của mái nhà yêu thương, của tụ hợp, quây quần bên nhau, từ đó con người trở thành người, không còn là những thú giữ gầm thét, cấu xé nhau. Hàng mấy mươi thế kỷ bể dâu, thương hải tang điền, mẫu gia đình biến đổi theo cấu trúc xã hội, mẫu quyền rồi phụ quyền, nhưng gia đạo thì chỉ có một, một con đường đi do người phụ nữ khai phá và đảm trách, bền bỉ, hiện diện nơi từng nhịp thở của con, trên đó người đàn ông khó có thể thay thế để gầy dựng nên.

Bức “Thiên chức làm mẹ” của danh họa Lê Phổ. Nguồn: Sotheby’s
Mẹ có thể dịu dàng như cánh bướm mà cũng có thể sắc bén như cây rìu hai lưỡi. Là rìu để bảo vệ con người, là bướm để làm đẹp nhân tính. Cả hai đều là biểu tượng nữ phái và sự quân bằng nằm ở trái tim nhân ái, rộng lòng biết thương “lòng ái từ như bể như non”. Gia đạo của người phụ nữ nằm trong hành trình mang nhiều chữ “thương”, thương chồng, con, cháu, nuôi lớn khôn, tạo bền vững, vun trồng hợp nhất. Gia đạo dù gian nan, Mẹ vẫn sắt son nhẫn nại tô bồi “Vườn xuân một cửa để bia muôn đời”. Nỗi mong ước hóa thân của Liễu Hạnh, người mẹ của muôn dân mang ý nghĩa chuyển hóa trên “đường đi”, làm cho “con” trở nên người trưởng thành và đứng vững trong xã hội. “Con” trở nên “Người”, từ dã tính trở nên nhân tính, mỗi lúc một được cải thiện đạo đức hơn và trở nên con người của hoàn vũ, của nhân loài. Đức hạnh của Mẹ nằm trong sự chuyển hóa, chuyển hóa bằng hơi ấm và trái tim sẵn sàng hi sinh.
Khác với chế độ phụ quyền nổi trên bề mặt ở các nước Âu cũng như Á, và cũng khác với cấu trúc mẫu quyền chuyên chế của thời xa xưa, trong đó người phụ nữ hoăc bị khinh rẻ như nô lệ, hay độc đoán bạo động như nam giới, phụ nữ Việt đã có một vị trí cao trong gia đình và được mọi phần tử trong gia đình tôn trọng như là bà tổ của gia tộc: người phụ nữ là “nội tướng”, là phên dậu của cái nhà, và người đàn ông trong gia đình vẫn chỉ là “đứa con” lớn nhất, dù là con trời, trong tổ chức do người phụ nữ xếp đặt nên. Gia đạo bền vững nơi nhịp đong đưa giữa êm ái và sắt gan của người phụ nữ “Liễu Hạnh”, ở đạo hạnh nữ phái mềm mỏng mà trung kiên. Gương bền bỉ, can trường, sẵn sàng chịu đựng của người phụ nữ Việt Nam trong việc giữ gìn gia đạo của thế hệ trước vẫn còn ấm trong văn chương và ấm trái tim của những người con nay đã trở nên già. Làm sao quên được hình ảnh của Bà, của Mẹ, đầy thương yêu mà cũng đầy sức mạnh chống đỡ, lèo lái gia đình trong những lúc hoạn nạn, khi thì mất chồng, khi mất con, khi chiến tranh, khi đói khát lao khổ? Làm sao quên được bà Tú Xương vẫn tươi cười nuôi con khi chồng dài lưng tốn vải? Làm sao quên được cảnh Bà nội tôi vẫn ngâm thơ và ru con trong lúc gạo châu củi quế, phải nhịn bụng dành tiền cho con trai đi học, như mẹ Hồ Dzếnh một thời? Cũng không thể quên được cảnh Bà ngoại tôi ôm con của vợ lẽ vào lòng, nuôi nấng và che chở khỏi những cơn giận dữ của Ông tôi, công dung ngôn hạnh hơn cả tứ đức tam tòng vì tất cả đến từ trái tim đơn giản.
Đối với mẹ của mẹ của mẹ của mẹ của mẹ của mẹ của… mẹ của con thì hóa bao nhiêu kiếp cũng sẵn lòng, độ lượng mười phương tám hướng, vẫn lồng lộng đi về bên con như Cúc Hoa hiển hiện, nâng con thành người của người. Cánh bướm của Liễu Hạnh vẫn còn đập mềm mại như cơn mộng ru con, dệt tơ nhân ái, và đôi tay vẫn chuyên cần thoăn thoắt như hai cánh dũa sắt của chiếc rìu sẵn sàng bảo vệ mọi đe dọa hiểm nguy xâm hại phẩm chất con người, dành tin yêu cho đàn con mai sau. Cầm rìu cũng như cầm kim thêu hay cầm bút viết, người phụ nữ Việt có thừa năng lực và trí tuệ để chuyển hóa chính mình và người trong cuộc hành trình nhân thế- cuộc giải phóng khỏi áp lực định kiến xã hội bên ngoài vẫn còn đằng đẳng, cho nên đức hạnh người phụ nữ nằm chính trong năng lực sáng tạo hóa thân mộng đời thành hiện thực bằng chân tình Mẹ Con, luôn chảy không ngừng, không dừng một giây để đừng hóa đá, dù là hóa đá chờ người thương… □
Chúng ta sống trong một mô phỏng máy tính như “Ma trận”?
Lý thuyết vũ trụ mô phỏng gợi ý là vũ trụ của chúng ta, với tất cả mọi thiên hà của mình, các hành tinh và các hình thức sống, đều là một mô phỏng máy tính được lập trình tỉ mỉ. Theo kịch bản này, các lực vật lý vận hành thực tại của chúng ta đều là các thuật toán. Các trải nghiệm mà chúng ta có đều được tạo ra từ các quá trình xử lý tính toán của một hệ vô cùng tiên tiến.

Dẫu chỉ mang tính giả định, suy đoán, lý thuyết vũ trụ mô phỏng/vũ trụ giả lập đã thu hút sự chú ý của các nhà khoa học và các nhà triết học do những gợi ý đầy kích thích của nó. Ý tưởng này đã xuất hiện đầy ấn tượng trong văn hóa đại chúng, suốt các bộ phim, chương trình truyền hình và sách, bao gồm cả bộ phim sản xuất năm 1999, Ma trận.
Những ghi nhận sớm nhất về khái niệm này, thực tại là một ảo ảnh, đã có từ thời Hy Lạp cổ đại. Khi đó, câu hỏi “Cái gì là bản chất của thực tại của chúng ta?” từ triết gia Plato và những người khác, đã dẫn đến sự ra đời của chủ nghĩa duy tâm. Các triết gia duy tâm cổ đại như Plato coi trí tuệ và tinh thần như thực tại vĩnh cửu. Vật chất, với họ, chỉ là một sự biểu hiện hoặc ảo ảnh.
Cho đến thời kỳ hiện đại, chủ nghĩa duy tâm đã chuyển thành một triết lý mới. Đó là ý tưởng cả thế giới vật chất và ý thức đều thuộc một thực tại mô phỏng. Đơn giản là một sự mở rộng theo hướng hiện đại hơn của chủ nghĩa duy tâm, được định hướng bằng những tiên tiến công nghệ hiện tại về các công nghệ tính toán và công nghệ số. Trong cả hai trường hợp, bản chất thật của thực tại đã vượt qua hình thức vật lý.
Trong cộng đồng khoa học, khái niệm một vũ trụ mô phỏng/vũ trụ giả lập đã thu hút cả các quan điểm hoài nghi lẫn đồng thuận một cách say mê. Một số nhà khoa học đề xuất là nếu thực tại của chúng ta là một mô phỏng thì có thể có những đột biến hoặc mẫu hình bên trong kết cấu của vũ trụ tiết lộ bản chất mô phỏng của nó.
Tuy nhiên, cuộc kiếm tìm những dị thường như thế vẫn còn là một thách thức. Hiểu biết của chúng ta về các luật vật lý vẫn đang tiến hóa. Cuối cùng, chúng ta thiếu một khung định nghĩa để phân biệt thực tại mô phỏng và phi mô phỏng.
Một lực vật lý mới
Nếu thực tại vật lý là một cấu trúc mô phỏng hơn là một thế giới khách quan tồn tại một cách độc lập với quan sát, chúng ta có thể chứng minh nó như thế nào về mặt khoa học? Trong nghiên cứu năm 2022, một thực nghiệm đã được đề xuất nhưng đến giờ vẫn còn chưa được kiểm nghiệm.
Tuy vậy, vẫn có hy vọng. Lý thuyết thông tin là nghiên cứu toán học về định lượng, lưu trữ và truyền thông thông tin. Do nhà toán học Claude Shannon phát triển, nó ngày một trở thành phổ biến trong vật lý và được sử dụng trên nhiều phạm vi nghiên cứu.
Trong một nghiên cứu mới, xuất bản trên tạp chí AIP Advances, lý thuyết thông tin đã được vận dụng để đề xuất một lực vật lý mới, infodynamics thứ hai (thông tin động lực học) 1. Và quan trọng là, nó hỗ trợ cho lý thuyết vũ trụ mô phỏng.
Tại tâm điểm của lực thông tin động lực học là khái niệm entropy – một đo đạc độ hỗn độn vốn luôn luôn gia tăng theo thời gian trong một hệ cô lập. Khi một cốc cà phê nóng được đặt ở trên bàn, sau một thời gian nó sẽ đạt đến độ cân bằng, khi có được cùng mức nhiệt độ với nhiệt độ môi trường xung quanh. Entropy của hệ này cao nhất tại điểm đó và mức năng lượng của nó đạt mức tối tiểu.
Lực thông tin động lực học thứ hai có trạng thái “information entropy” (entropy thông tin) – lượng trung bình của thông tin được truyền tại một sự kiện – tới một giá trị tối tiểu tại mức cân bằng.
Vì vậy nó toàn hoàn đối lập với lực thứ hai của nhiệt động lực học (nhiệt luôn luôn tỏa một cách tự động từ vùng nóng sang vùng lạnh của vật chất trong khi entropy tăng lên). Với một cốc cà phê lạnh, điều đó nghĩa là sự lan tỏa của xác suất vị trí một phân tử trong chất lỏng bị giảm đi bởi vì sự lan tỏa của năng lượng hiện hữu bị giảm đi khi có sự cân bằng nhiệt. Vì vậy entropy luôn luôn giảm theo thời gian khi entropy tăng.

Nghiên cứu trên tạp chí AIP Advances chỉ ra, sự xuất hiện của lực động lực học thông tin thứ hai là một cần thiết vũ trụ. Nó cũng có thể áp dụng được cho những nhánh khoa học rộng lớn. Chúng ta biết vũ trụ đang giãn nở mà không cần đến sự mất mát hoặc gia tăng của nhiệt, vốn đòi hỏi một entropy của toàn bộ vũ trụ là hằng số. Tuy nhiên chúng ta biết từ nhiệt động lực học là entropy luôn luôn gia tăng. Điều này chứng tỏ phải có một entropy khác–entropy thông tin – để cân bằng với sự gia tăng này.
Lực thông tin động lực học có thể xác nhận cách thông tin di truyền hành xử như thế nào. Nhưng nó cũng chỉ dấu các đột biến di truyền tại mức độ cơ bản nhất chứ không chỉ là các sự kiện ngẫu nhiên, như lý thuyết của Darwin đề xuất. Thậm chí các đột biến di truyền xuất thiện theo lực thông tin động lực học thứ hai, theo cách mà entropy thông tin của hệ gene đó luôn luôn là tối tiểu. Lực này có thể giải thích hiện tượng trong vật lý nguyên tử và sự tiến hóa theo thời gian của dữ liệu số.
Thú vị nhất là lực mới có thể giải thích một trong những bí ẩn lớn nhất của tự nhiên. Tại sao đối xứng lại chiếm ưu thế hơn phi đối xứng trong vũ trụ này? Nghiên cứu cũng chứng tỏ về mặt toán học các trạng thái đối xứng cao là lựa chọn hoàn hảo bởi vì nhiều trạng phải phản hồi với mức độ entropy thông tin thấp nhất. Và khi lực thông tin động lực học thứ hai điều khiển, đó là những gì một hệ sẽ cố gắng đạt được một cách tự nhiên.
Khám phá này có thể có gợi ý to lớn cho nghiên cứu di truyền, sinh học tiến hóa, các liệu pháp gene, vật lý, toán học và vũ trụ học…
Lý thuyết mô phỏng
Hệ quả chính của lực thông tin động lực học thứ hai là sự tối tiểu của nội dung thông tin liên quan đến bất kỳ sự kiện hay tiến trình nào của vũ trụ. Điều này có thể dẫn đến một tối ưu nội dung thông tin hoặc sự cô nén dữ liệu hiệu quả nhất.
Kể từ khi lực thông tin động lực học thứ hai là một cần thiết vũ trụ, và xuất hiện để áp dụng ở mọi chỗ theo cùng một cách, có thể nói rằng điều này chỉ dấu là sự xuất hiện của toàn bộ vũ trụ là một cấu trúc mô phỏng hoặc một cỗ máy tính khổng lồ.
Một vũ trụ siêu phức tạp như vũ trụ của chúng ta, nếu là một mô phỏng, có thể đòi hỏi một tối ưu dữ liệu được xây dựng và cô nén theo thứ bậc để giảm thiểu nguồn lực tính toán và lưu trữ dữ liệu vẫn đòi hỏi để vận hành hệ mô phỏng. Điều này chính xác là cái mà chúng ta đang quan sát ở quanh ta, bao gồm dữ liệu số, các hệ thống sinh học, các đối xứng toán học và toàn bộ vũ trụ.
Cần có những nghiên cứu nữa trước khi chúng ta có thể nhất quyết được trạng thái mà lực thông tin động lực học thứ hai cũng cơ bản như nhiệt động lực học thứ hai. Điều đó cũng tương đồng với giả thuyết vũ trụ mô phỏng.
Nhưng cần xem xét cẩn trọng cả hai lý thuyết thì có lẽ đây là lần đầu tiên bằng chứng khoa học ủng hộ lý thuyết vũ trụ mô phỏng như cuốn sách mới xuất bản, “Reality Reloaded: The Scientific Case for a Simulated Universe” (Thực tại tái nạp: trường hợp khoa học cho một vũ trụ mô phỏng) 2.
Nhàn Thanh tổng hợp
————————————
1.https://pubs.aip.org/aip/adv/article/13/10/105308/2915332/The-second-law-of-infodynamics-and-its
2. https://ipipublishing.org/index.php/ipil/RR



