Giới thiệu về tôi

Thứ Bảy, 11 tháng 11, 2023

Sài Gòn, xe đạp và những miền nhớ

Chuyển đến nội dung Chuyện Xưa Home Sài Gòn xưa Văn nghệ xưa Người Việt xưa Việt Nam xưa Sài Gòn, xe đạp và những miền nhớ CHUYỆN XƯA SÀI GÒN XƯA Mùa phố vắng, người thưa, thi thoảng bắt gặp hình ảnh vài ba chiếc xe đạp thong dong trên đường xanh bóng cây, để lọt những vệt nắng đầu ngày trên vỉa phố như gợi lại cả miền hoài niệm về một góc Sài Gòn xưa êm đềm. Cách đây ít lâu, đọc báo thấy thông tin thành phố sắp thực hiện dự án xe đạp công cộng, những người Sài Gòn thuộc lớp U-70 như tôi không khỏi có chút bâng khuâng. Bởi xe đạp là gạch nối giữa quá khứ và hiện tại. Nỗ lực làm sống lại phương tiện xanh này có ý nghĩa khôi phục lại cho Sài Gòn một dòng chảy yên bình trong cuộc sống quá đỗi náo nhiệt của đô thị hiện đại, sầm uất bậc nhất Việt Nam này. Theo lời ba tôi kể lại, thập niên 1950 được xem là thời kỳ hoàng kim của xe đạp ở Sài Gòn. Thành phố có hẳn những con đường dành riêng cho xe đạp, nổi tiếng nhất là đường Nancy (nay là đường Nguyễn Văn Cừ ở quận 1) hay một số con đường nhỏ chạy song song theo đường Galliéni (nay là Trần Hưng Đạo, quận 1). Thời đó, nhà nào sắm được một chiếc xe đạp nhập từ Pháp về, thường là những người khá giả, tầng lớp thượng lưu, là cả một niềm hãnh diện. Thầy ký, thầy phán đến sở làm hầu hết đều dùng phương tiện này. Giới bình dân, những người lao động nhập cư thì khiêm tốn hơn, với những chiếc xe đạp sản xuất trong nước. Những vòng quay xe đạp đưa người bán hàng rong ra chợ, len lỏi trong từng con hẻm nhỏ. Đặc biệt, những cô nữ sinh trong tà áo dài trắng đạp xe đến trường trông thướt tha, thục nữ, từng là nàng thơ của những chàng trai si tình. Thời của tôi những năm thập niên 1960, từ ấu thơ xe đạp đã giúp đứa trẻ tự tập cân bằng. Khi dần lớn, đi học đến trường, xe đạp chở theo bao kỷ niệm đẹp của tuổi mộng mơ. Đến khi vào đời, xe đạp còn là người bạn đồng hành cùng những giọt mồ hôi đổ theo ngày tháng vất vả mưu sinh. Với tôi, hình ảnh chiếc xe đạp còn gắn thêm với những mối tình thầm lặng khó phai nhoà. Năm 1973, tôi rời tỉnh lỵ Biên Hòa để xuống Sài Gòn học đại học với một vật mang theo bất ly thân là chiếc xe đạp hưu trí của ba tôi, cũng là chiếc xe duy nhất của gia đình. Sở dĩ tôi gọi tên như vậy là vì chiếc xe đạp này ba tôi dùng đi làm suốt hai thập niên 50 và 60. Khi ba về hưu, đó là tài sản duy nhất ông có được, nên mẹ tôi thường gọi là “chiếc xe đạp hưu trí”. Trước khi những vòng xe lăn bánh trên các nẻo đường phố Sài Gòn, tuổi học trò thời trung học của tôi cũng đã gắn liền với nó. Những buổi đi cắm trại dã ngoại, ban đêm bên đống lửa tàn, bọn tôi lật ngược chiếc xe đạp lại, áp cái bình Dinamo nhỏ vào thành bánh xe, thay phiên nhau quay tay bàn đạp để phát sáng ngọn đèn phía trước xe cho cả lũ còn ngồi nán lại ca hát về khuya. Hay những buổi tụ tập tự phát không hẹn trước, những lúc trống tiết dạy đột xuất của thầy cô, chúng tôi chơi trò oảnh tù tì, bắt cặp từng đôi nam nữ đèo nhau qua cầu. Khi lên dốc cầu, vì cố gắng đạp chở bạn gái ngồi sau nên sên xe bị đứt giữa chừng, làm ùn tắc cả đoàn xe trên cầu. Lại bắt con gái người ta xuống xe đẩy bộ đổ mồ hôi ướt áo, đến nỗi dỗi hờn. Thời trung học qua đi, khi xuống Sài Gòn ở nhà trọ học tiếp đại học, chiếc xe đạp hưu trí của ba tôi cho mang theo cũng là người bạn đồng hành bắt đầu cho cuộc sống tự lập mưu sinh. Mỗi buổi sáng tinh mơ, khi thành phố còn ngái ngủ, con hẻm trong xóm lao động đã lao xao tiếng ồn, hàng quán cà phê cóc đã mở cửa, gánh xôi bắp, bánh mì, tàu hủ, sữa đậu nành… đã bày bán dọc theo con hẻm, chỉ chừa một khoảng giữa cho xe chạy. Tôi đã dắt xe ra khỏi nhà trọ, vừa đạp dọc theo hẻm, vừa chào hỏi bà Ba, cô Tư, bác Sáu…, ra đường chính đến đại lý các toà soạn báo để nhận nhật báo đi bỏ mối tháng cho các gia đình. Những con đường đạp xe qua hàng ngày để bỏ báo và mỗi tối đi dạy kèm, tôi tự thầm gọi tên riêng là “đường cơm áo”, đã theo tôi suốt quãng đời sinh viên. Mối tình đầu của tôi không phải là “nhờ cây đàn buông tiếng xa xôi” mà chính là “nhờ chiếc xe đạp chở tình” trên những đường phố vắng đưa người yêu về khu ký túc xá. Những buổi tối hẹn hò sau giờ đi dạy kèm hay sau giờ sinh hoạt, chúng tôi cùng ngồi trên chiếc xe đạp dạo vòng quanh những con đường rợp bóng cây, từ khu ký túc Minh Mạng (trên đường Ngô Gia Tự bây giờ) ra tới đường Duy Tân (Phạm Ngọc Thạch) cây dài bóng mát. Ghé qua khu bán hàng ăn đêm cạnh trường nữ Gia Long (nay là Nguyễn Thị Mình Khai) để ngồi bên nhau ăn bò pía, uống nước đá đậu đỏ bánh lọt. Rồi dắt bộ đi bên nhau dưới ánh trăng vàng chiếu xuyên qua hàng cổ thụ trên đường Cường Để (Tôn Đức Thắng) và cúi xuống “nhặt chiếc lá vàng” đặt vào bàn tay nàng “làm bằng chứng yêu em”. Không ai khác hơn, chính chiếc xe đạp là chứng nhân cho nụ hôn trao nhau trước khi tiễn người em gái khuất dần sau cánh cửa khuôn viên ký túc xá. Đầu thập niên 1980, khu Dân Sinh ở quận Nhứt là nơi bán đồ kim khí điện máy đủ các loại. Mỗi kỳ lãnh lương dạy học, tôi ra đó tìm mua về từng món đồ phụ tùng, ráp dần thành một chiếc xe đạp đòn ngang để thay thế chiếc “xe đạp hưu trí” đã cũ của ba tôi. Ngày đầu tiên chiếc xe đạp mới toanh lăn bánh trên đường cũng là ngày chở theo mối nhân duyên đời tôi tới tận hôm nay. Chúng tôi đi từ Sài Gòn về tận Long Khánh trên chiếc xe đạp đòn ngang này để chàng rể về ra mắt ba má vợ tương lai. Trên quãng đường dài và nhiều con dốc nối tiếp nhau, chúng tôi phải vừa đạp xe vừa dắt bộ khi qua những con dốc cao. Nhưng mệt nhọc nào sá chi, vì có tình yêu của mình bên cạnh. Bây giờ, mỗi khi đi ngang cung đường này, lòng tôi lại nao nao hồi tưởng lại chiếc xe đạp đòn ngang năm xưa, một chứng nhân của cuộc đời. Đời người ai cũng có những kỷ niệm gắn liền với cuộc sống, ở nơi mình sinh ra và lớn lên, ở nơi mình tạm dung thân trên đất khách quê người, hay ở nơi mình chọn làm quê hương thứ hai gắn bó gần trọn cuộc đời. Để rồi khi ký ức gợi về, giữa bao nhiêu kỷ niệm ngồn ngộn, ta vẫn nhớ như in những ký ức biết nói. Đó là những miền nhớ mãi mãi không gì có thể thay thế được. Với tôi, Sài Gòn là quê hương thứ hai, ở đó có những vòng xe đã cùng tôi lăn bánh một thời mưa nắng trên các nẻo đường mưu sinh gian khổ. Nơi đó đã cho tôi hạnh ngộ những mối tình dưới trăng sao thoáng qua trên chiếc xe đạp kỷ vật của gia đình. Và nơi đó đã se duyên nợ trăm năm của tôi với một người con gái trên chiếc xe đạp đòn ngang chở nhiều kỷ niệm. Thượng đế đã ban cho mỗi người một món quà quý giá mà ai cũng có, đó là ký ức. Trong ký ức có những miền nhớ luôn đi theo suốt cuộc đời, có những miền nhớ theo năm tháng dần phôi pha. Cám ơn Thượng đế đã ban cho tôi một vùng ký ức không phai, cùng với chiếc xe đạp đã từng là một kỷ vật quý báu tôi luôn mang theo suốt cuộc đời. Tác giả bài viết giàu chất thơ này, Lê Phong Quan, sinh năm 1955, là bạn đồng môn với người thi sĩ tài hoa Nguyễn Tất Nhiên ở trường trung học Ngô Quyền, Biên Hòa những năm cuối thập niên 1960, đầu thập niên 1970. Sau khi thôi nghề dạy học, ông dành phần lớn thời gian để thực hiện các chương trình vì cộng đồng trong lĩnh vực giáo dục và sáng tác thơ, nhạc. Năm 2018, ông cho ra mắt tập thơ “Đi bên lề thôi” do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành. Bắt nguồn từ thông tin về dự án xe đạp công cộng sắp được triển khai tại TP.HCM, ông hồi tưởng lại “một thời xe đạp” của mình và mong muốn TP.HCM sớm trở thành một “thành phố xe đạp” như những đô thị được xem là những thành phố thân thiện với du lịch bằng xe đạp nổi tiếng trên thế giới như Amsterdam (Hà Lan), Paris (Pháp), San Francisco (Mỹ) hay Kyoto (Nhật Bản). Bài viết do tác giả Lê Phong Quan gửi đến cho chuyenxua.net Bài đã đăng trên Savour Vietnam Magazine. Danh mụcChuyện Xưa,Sài Gòn xưa Viết một bình luận Bình luận TênEmailTrang web Lưu tên của tôi, email, và trang web trong trình duyệt này cho lần bình luận kế tiếp của tôi. Nhiều năm qua, tại hầu hết các thành phố lớn trên thế giới, xe điện luôn là phương tiện giao thông công cộng phổ biến nhất. Qua thời gian, xe điện phát triển từ hình thức thô sơ, đơn giản, dần dần thành phương tiện hiện đại và tiện lợi. Tuy nhiên ở Việt Nam từ lâu đã vắng bóng xe điện ở các thành phố lớn. Ít người biết rằng ở cả Sài Gòn lẫn Hà Nội đã từng có một thời gian dài rộn ràng tiếng xe điện leng keng. Xe điện trên đường Catinat năm 1948 Xe điện nội đô ở Sài Gòn bắt đầu hoạt động từ năm 1881 và phát triển mạnh mẽ cho tới năm 1945 thì gần như ngừng hoạt động vì đường ray bị phá hoại nhiều đoạn, chỉ chạy cầm chừng trước khi chấm dứt hoàn toàn năm 1955. Ở Hà Nội, xe điện hoạt động lâu hơn, hiện diện suốt 90 năm, từ 1901 đến năm 1991 mới ngưng hoạt động do xe điện đã quá cũ và lạc hậu vì không thể hiện đại hóa. Khi tuyến đường sắt đầu tiên được xây dựng ở Sài Gòn (cũng là tuyến đầu tiên của cả Đông Dương) thì thành phố này vẫn chưa có hệ thống điện công cộng, vì vậy đầu máy xe lửa được chạy bằng động cơ hơi nước, lò đốt bằng than hoặc củi khi chạy vừa bốc khói vừa thỉnh thoảng phun hơi nước ra nên dân chúng gọi là “xe lửa”. Xe lửa tuyến Sài Gòn – Chợ Lớn năm 1905, lúc này đầu máy vẫn chạy bằng động cơ hơi nước, trước mũi xe nhả khói Vì tên gọi này nên nhiều người bị nhầm lẫn giữa hệ thống “xe lửa” nội đô chạy tuyến Sài Gòn – Chợ Lớn (đường sắt đô thị) và “xe lửa” chạy liên tỉnh như Sài Gòn – Mỹ Tho, Tháp Chàm – Đà Lạt… Để phân biệt 2 hệ thống này, người Pháp sử dụng 2 tên gọi khác nhau là Chemins de fer (đường sắt) và Tramways (đường xe điện, hoặc đường sắt đô thị). Bản đồ thời Pháp phân biệt các đường của Autobus (xe buýt), Tramways (xe điện) và Chemins de fer (xe lửa) Vào những năm đầu của ngành công nghiệp đường sắt, đầu máy của cả xe lửa chạy liên tỉnh lẫn xe điện nội đô đều là động cơ hơi nước. Đầu xe lửa động cơ hơi nước. Ở trên là đầu máy 120-T của tuyến Sài Gòn – Chợ Lớn. Ở dưới là đầu máy 220-T của tuyến Sài Gòn – Mỹ Tho Đến gần thế kỷ 19 thì công ty điện lực mới được thành lập, nhưng Sài Gòn vẫn chưa có hệ thống điện công cộng đủ lớn để phục vụ xe điện. Năm 1896, công ty khai thác và vận hành tuyến Sài Gòn – Chợ Lớn là CFTI đã hùn với Công ty Điện lực Đông Dương để xây dựng nhà máy điện nhằm thay đổi cách điều khiển xe và giảm chi phí. Đó là nhà máy điện đầu tiên của Sài Gòn, nằm trên đường National (nay là đường Hai Bà Trưng), phía sau Nhà hát Thành phố, ngày nay là trụ sở của Điện Lực Thành Phố. Tuy nhiên nhà máy điện này cũng chưa đủ sức để điện khí hóa các xe điện nội thành. Xe lửa Sài Gòn – Chợ Lớn, đầu máy động cơ hơi nước Đến năm 1911, khi chính quyền thuộc địa nâng cấp hệ thống điện ở Sài Gòn thì các tuyến tramway mới bắt đầu được “điện khí hóa”, tức là đầu máy xe lửa không còn chạy bằng động cơ hơi nước nữa mà chuyển qua chạy bằng điện thông qua hệ thống đường dây điện trên cao dọc theo đường ray. Xe điện Sài Gòn – Chợ Lớn, bên trên là hệ thống dây cấp điện cho xe. Hình chụp tại Ngã tư Tổng Đốc Phương – Đồng Khánh (nay là Châu Văn Liêm- Trần Hưng Đạo) – Đường ray xe diện và dây điện trên cao để cấp điện trên đường Marins (Đồng Khánh, nay là đường Trần Hưng Đạo B) Quá trình điện khí hóa đó diễn ra từng phần, bắt đầu từ năm 1914, cho đến khi nhà máy điện Chợ Quán được xây dựng năm 1922 thì quá trình điện hóa các tuyến đường sắt nội đô mới diễn ra hoàn toàn, từ đó Sài Gòn chính thức có một hệ thống tàu điện đúng nghĩa. Xe điện đi ngang qua nhà máy điện Chợ Quán – Xe điện tại Chợ Lớn năm 1943 Trở lại vào thời kỳ đầu tiên của ngành đường sắt ở Đông Dương, đó là vào ngày 27/12/1881, chuyến tàu lửa đường sắt đầu tiên của Đông Dương đã lăn bánh, nối Sài Gòn với Chợ Lớn. Buổi khai trương tuyến đường sắt đô thị (tramway) Saigon-Cholon vào ngày 27-12-1881. Trong hình, thống đốc Le Myre de Vilers đang đứng trên chiếc đầu máy hơi nước mang tên ông Tuyến đường sắt đô thị này được công ty Société générale des tramways de vapeur de Cochinchine (SGTVC – Tổng công ty Tàu điện hơi nước Nam Kỳ) khai thác và vận hành, bắt đầu từ ga ở đầu đường Canton (sau đổi tên thành đường Somme, nay là Hàm Nghi), ngay cột cờ Thủ Ngữ, chạy dọc theo quai de l’Arroyo-Chinois (sau này là bến Chương Dương, nay là đại lộ Võ Văn Kiệt) đến đường Marchaise (nay là Ký Con), sau đó băng qua đến đường Thuận Kiều (nay là đường CMT8) để đến đường Chasseloup-Laubat (nay là NTMK) ngay góc Vườn Ông Thượng (nay là Công viên Tao Đàn) rồi băng qua khu vực Nancy (ngày nay là Ngã 6 Cộng Hòa) để qua phía đường Strategic (là đường Trần Phú ngày nay) và đi Chợ Lớn. Tuyến tramway này đi theo cung đường gọi là “Đường Trên” (Thượng lộ), kết thúc ở ngã tư đường Jacarreo (Tản Đà) và rue des Marins (từ 1955 là đường Đồng Khánh, nay là đường Trần Hưng Đạo B). Ga tramway ngay cột cờ Thủ ngữ, đầu đường Hàm Nghi ngày nay – Ga xe điện ở bến sông, đầu đường Hàm Nghi ngày nay – Ga Chợ Lớn năm 1910 Tuyến đường xe lửa Đường Trên này được hiển thị 1 phần trong tấm bản đồ năm 1882 dưới đây: Bản đồ Sài Gòn năm 1882. Ngay mũi tên màu đỏ chỉ vô tuyến đường sắt Sài Gòn – Chợ Lớn. Mảng xanh lá cây góc trên là Vườn Ông Thượng (nay là công viên Tao Đàn) Đầu máy hơi nước của tramway kéo theo khoảng 2-3 toa hành khách. Mỗi toa rộng hơn 2m, cao gần 3 m, dài 7m, cả đoàn tàu dài chừng 30m. Ban đầu thì đường ray và tà vẹt (các thanh ngang vuông góc với đường ray) nằm nổi trên mặt đường nhựa. Từ năm 1888, công ty SGTVC được giao cho quản lý luôn tuyến đường sắt Sài Gòn – Mỹ Tho, được thiết lập từ năm 1885. Đầu máy xe lửa tuyến Sài Gòn – Chợ Lớn thuở ban đầu Năm 1890, Công ty Tàu đện Pháp ở Đông Dương (CFTI – Compagnie Francaise des Tramways de l’Indochine) ra đời, cạnh tranh trực tiếp với SGTVC. Xe điện Sài Gòn – Chợ Lớn Công ty CFTI thiết lập một đường tramway mới của tuyến Sài Gòn – Chợ Lớn, bắt đầu chở khách từ 14/7/1891 (ngày quốc khánh Pháp) chỉ sau một năm công ty được thành lập và xây dựng đường ray. Cũng giống tuyến đường tramway cũ, tuyến mới này xuất phát từ bến Bạch Đằng ngày nay, nhưng không vòng vô trong để đi theo Đường Trên mà đi thẳng dọc theo bờ kênh (nay là đại lộ Võ Văn Kiệt), gọi là Đường Dưới (Hạ lộ). Tuyến tramway ở Đường Dưới, dọc bờ kênh (nay là đại lộ Võ Văn Kiệt). Ảnh chụp năm 1904 Tuyến đường mới này không làm đường ray nổi như đường cũ, mà làm loại đường ray chìm, âm xuống mặt đường. Do cạnh tranh và cùng với sự phát triển của đô thị nên sau đó đường ray cũ cũng chuyển sang quá trình “chìm hóa”. Ở nhiều đoạn đường ray nằm chìm ở giữa nên toàn bộ mặt đường được dùng chung cho cả tramway, ô tô và xe ngựa kéo chở khách… Xe điện và xe bus trên đường Đồng Khánh ở Chợ Lớn (nay là đường Trần Hưng Đạo B) Trong hình dưới đây có thể thấy được 2 tuyến đường cũ và đường mới, đường màu xanh là đường tramway cũ, đường màu đỏ là đường tramway mới. Bản đồ năm 1890, lúc này đoạn đầu của 2 tuyến tramway của Đường Trên và Đường Dưới trùng nhau ở đoạn dọc bờ kênh – Bản đồ năm 1900, tuyến tramway Sài Gòn – Chợ Lớn ở Đường Trên có thay đổi 1 chút, đoạn đầu trùng với tuyến xe lửa Sài Gòn – Mỹ Tho của cùng công ty SGTVC khai thác Trong bản đồ năm 1900 bên có thể thấy tuyến đường tramway Sài Gòn – Chợ Lớn có thời điểm đi ngang qua khu Chợ Cũ ở đại lộ Charner (vị trí Kho Bạc trên đường Nguyễn Huệ hiện nay). Tuy nhiên trạm xe điện này đã không còn kể từ khi Chợ Cũ bị giải tỏa. Bên dưới là một số hình ảnh trạm xe điện trước Chợ Cũ vào cuối thế kỷ 19: Đầu đường Charner Từ năm 1892 đến 1913, CFTI đã mở thêm nhiều tuyến xe điện, đó là tuyến Sài Gòn – Hóc Môn đi qua Đa Kao, Tân Định, Bà Chiểu, Gò Vấp; tuyến Sài Gòn – Phú Nhuận và tuyến Gò Vấp – Chợ Búng (Lái Thiêu), sau đó kéo dài lên Thủ Dầu Một và một đoạn lên tận Lộc Ninh để phục vụ việc chuyên chở cao su, thường được gọi là “tuyến đường cao su”. Năm 1911, công ty SGTVC phá sản vì không cạnh tranh nổi với CFTI có vốn của nhà nước, chính quyền thuộc địa đã giao lại 2 tuyến đường sắt mà SGTVC quản lý (Sài Gòn – Chợ Lớn và Sài Gòn – Mỹ Tho) cho Cơ quan Quản lý Đường sắt Không Nhượng Quyền (Administration des Réseaux Non Concédés). Tuy nhiên sau đó công ty này cũng rút lui khỏi tramway, tập trung vào đường sắt (Chemins de fer), tuyến tramway Sài Gòn – Chợ Lớn ở Đường Trên trở thành một nhánh của tuyến xe lửa Sài Gòn – Mỹ Tho, xuất phát từ Ga Sài Gòn (xây dựng năm 1915) ở đối diện chợ Bến Thành. Từ đó CFTI độc quyền khai thác hệ thống tramway ở Sài Gòn. Thập niên 1920, sau khi đã có xe điện chạy bằng điện, và đại lộ Galliéni (nay là đường Trần Hưng Đạo) được xây dựng để nối liền từ chợ Bến Thành mới (được khánh thành năm 1914) đến Chợ Lớn, CFTI đã đầu tư xây dựng thêm một đường ray mới của tuyến Sài Gòn – Chợ Lớn nằm ngay trên đại lộ Galliéni để giảm tải cho tuyến tramway ở Đường Dưới, đường ray mới này thường được gọi là tuyến “xe lửa giữa”, vì nó nằm ở giữa 2 tuyến đường sắt cũ trước đó. Ngày khánh thành tramway Sài Gòn – Chợ Lớn tuyến xe lửa giữa, trên đại lộ Galliéni mới được xây dựng – Xe điện đi ngang qua Chợ Bến Thành, trước khi vào đại lộ Galliéni – Xe điện trên đại lộ Gallieni (nay là Trần Hưng Đạo), đoạn cắt với đường Phát Diệm (nay là Trần Đình Xu), ở góc là trường tiểu học Cầu Kho (nay là trường tiểu học Trần Hưng Đạo) – Đại lộ Galliéni năm 1931 Một điểm lưu ý, là từ lúc này, ga đầu tiên của tramway Sài Gòn – Chợ Lớn không còn nằm ở chỗ cột cờ Thủ ngữ như ban đầu nữa, mà dời vào bên trong khoảng vài trăm mét, ở vị trí ngày nay là Trạm điều hành xe buýt Sài Gòn ở gần giữa đường Hàm Nghi. Nơi này trở thành trạm trung chuyển chính của hệ thống xe điện nội thành Sài Gòn, nối liền tuyến Sài Gòn – Chợ Lớn và Sài Gòn – Hóc Môn. Ga xe điện trên đại lộ Somme (nay là Hàm Nghi), vị trí này ngày nay là bến xe buýt trung tâm của Sài Gòn – Bản đồ Sài Gòn năm 1948, đường màu đỏ là các tuyến đường sắt. Góc dưới bên phải là đường sắt đi qua cầu Mống dẫn ra Cảng Sài Gòn, phục vụ cho các tàu chở hàng từ cảng ra Ga Sài Gòn – Đường ray xe điện/xe lửa chính giữa đại lộ Hàm Nghi, vẫn còn cho đến những năm 1980 – Xe điện đang chạy ở gần dốc Cầu Mống, dọc bờ kênh Cũng theo bản đồ đường sắt bên trên, tuyến đường ray đi từ đại lộ Somme (nay là Hàm Nghi) ra phía chợ Bến Thành (mới) để đến đầu đại lộ Bonard (nay là Lê Lợi), chạy cắt qua Charner (nay là Nguyễn Huệ), chạy cặp bên hông rồi vòng ra sau Nhà hát Lớn để ra đường Paul Blanchy (nay là Hai Bà Trưng) ở ngay công ty điện lực rồi thẳng về hướng Tân Định. Xe điện đi qua góc ngã tư Charner – Bonard. Tòa nhà trong ảnh ngày nay là REX Hotel – Xe điện trên đường Paul Blanchy Từ Tân Định, tuyến tramway quẹo phải về hướng Dakao rồi tỏa về Bà Chiểu, Gò Vấp, Hóc Môn… Tuyến tramway chạy từ đại lộ Somme ngang qua Chợ Bến Thành để đi về hướng Gò Vấp – Hóc Môn – Xe điện tuyến Sài Gòn – Hóc Môn đi ngang qua Opera House – Xe điện ở Gia Định, con đường trong hình ngày nay là Bùi Hữu Nghĩa ở gần chợ Bà Chiểu – Ga tramway ở Gia Định, lúc này vẫn còn đầu máy hơi nước – Đường Hai Bà Trưng thập niên 1960, vẫn còn dấu tích đường ray tramway tuyến Sài Gòn – Hóc Môn, dù lúc này đã không còn xe điện Ngoài ra, theo tấm đồ bên dưới thì còn có một tuyến tramway khác đi dọc theo Bến Bạch Đằng ngày nay để về Dakao. Vị trí mũi tên màu đỏ chỉ đường xe lửa dẫn ra Cảng Sài Gòn Xin nói thêm xe điện của tuyến đường sắt đô thị Sài Gòn sau khi được điện khí hóa. So với xe lửa chạy bằng hơi nước thì xe điện có hình dáng thon gọn và màu sơn đẹp hơn. Trên đầu xe có cái cần câu điện bằng thép cao khoảng 2 mét hình chữ U lật ngược, khi xe chạy thì rà theo đường dây điện chạy dọc theo đường rầy, xẹt ra tia lửa. Hình thức “câu điện” này khác với xe điện ở Hà Nội, lấy điện bằng cái cần dài bắt vào dây. Cần câu điện hình vòng cung trên xe điện ở Sài Gòn Khách lên xe phải mua vé bằng tấm bìa cứng, màu xanh đậm, hình chữ nhật, khổ cỡ ba phân, dài sáu phân. Lên xe đưa cho nhân viên soát vé, họ xé ở một cạnh hình tam giác và trả lại, coi như vé đã dùng xong. Ngày đó cùi vé xe điện là thứ đồ chơi phổ biến của trẻ con Sài Gòn, ai cũng sưu tầm cả xấp để chơi tạt giấy. Đặc biệt là vé mua ở ga nào thì có hình biểu tượng của ga đó vẽ trên một tấm bảng trắng bằng kim loại tráng men, theo kỹ thuật làm đồ pháp lam vốn chịu được mưa nắng nhờ lớp men phủ bảo vệ kim loại bên trong. Trạm xe điện ở Bến Hàm Tử Thời đó, người Việt biết chữ rất hiếm, nên có thể rằng các ga/trạm xe lửa để hình đại diện như vậy để dễ người dân nhận biết. Thí dụ ga Sài Gòn có logo hình con cò trắng, ga Cầu Kho hình con cá, ga An Bình có hình con khỉ, ga Arrat Cống Quỳnh hình cây cào cỏ và ga Chợ Lớn có hình xe cút kít. Trạm xe điện Cầu Kho có hình con cá Vào trong xe điện, khách có thể thấy một ông tài xế không lái xe mà luôn luôn đứng, không ngồi như tài xế thông thường, làm nhiệm vụ giật cái gọng xe điều khiển xe dừng lại hay chạy tới. Phía sau lưng ông có một cái bảng bằng men trắng chữ đen ghi rõ bằng ba thứ tiếng Pháp, quốc ngữ và bằng chữ… Nôm. Nội dung “Xin đừng nói chuyện với người coi máy”. Do có hai đầu, khi xe đi theo chiều ngược lại, ông tài xế trở qua đầu kia lái tiếp. Do tốc độ chậm, khách đi xe thường nhảy ra khỏi xe khi gần đến ga. Xung quanh xe điện có rất nhiều bảng quảng cáo – – Tính đến năm 1945, tổng chiều dài của tramways vùng Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định và vùng phụ cận là hơn 72 km. Năm 1953, tramway ngưng hoạt động vì những xung đột của chính quyền và quân Bình Xuyên. Thực ra các tuyến tàu điện này chỉ hoạt động mạnh mẽ cho đến năm 1945, trước khi Nam Bộ kháng chiến diễn ra. Thời gian sau đó hệ thống đường ray bị phá hoại nhiều đoạn, chỉ còn duy nhất một đoạn ngắn từ Ga Sài Gòn tới Cảng Sài Gòn là hoạt động để bốc dỡ hàng hóa. Ngoài ra, một lý do khác là từ thập niên 1940 thì xe hơi cá nhân đã du nhập nhiều vào Sài Gòn, đồng thời các loại xe thổ mộ, xích lô, bus, sau đó là taxi cùng bùng phát, tiện dụng nên cạnh tranh gay gắt với xe điện, tất cả điều đó dẫn tới sự sụp đổ của hệ thống tramway ở Sài Gòn  – Chợ Lớn – Gia Định. Từ năm 1952, quân đội của Liên hiệp Pháp cho xây dựng lại nhiều trung tâm quân sự ở vùng Gò Vấp, nên cho sửa lại tuyến Gò Vấp, Hóc Môn và Gò Vấp – Thủ Dầu Một để vận chuyển khí tài. Cũng vì sự đứt quãng của các tuyến xe điện như vậy nên khi tổng thống Ngô Đình Diệm thành lập Đệ nhất Cộng Hòa, chính quyền đã hấm dứt các hợp đồng xe điện Sài Gòn với CFTI.  Năm 1955, cùng với sự rút lui hoàn toàn của người Pháp tại Đông Dương thì CFTI cũng rời Việt Nam. Xe điện trên đường Legrand de la Liraye (nay là Điện Biên Phủ) Sau đó, các tuyến đường sắt đô thị được tháo bỏ từng phần, đến tận thập niên 1990 vẫn còn 1 số đoạn đường vẫn còn dấu tích của đương sắt đô thị. Một số đoạn khác thì được chuyển đổi thành đường sắt chuyên dùng (như tuyến chuyên chở hàng từ cảng Sài Gòn lên Bến Thành). Ga xe điện gần cầu Ông Lãnh Bài: Đông Kha, bản quyền bài viết của chuyenxua.net Tư liệu tham khảo: Les chemins de fer de la France d’Outre-Mer: L’Indochine – Le Yunnan – Frederic Hulot Nguồn ảnh: manhhai flickr Danh mụcChuyện Xưa,Sài Gòn xưa Viết một bình luận Bình luận TênEmailTrang web Lưu tên của tôi, email, và trang web trong trình duyệt này cho lần bình luận kế tiếp của tôi. Trong làng nhạc hải ngoại thời điểm nửa cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990, dòng nhạc trữ tình được kế thừa từ trong nước trước năm 1975 vẫn phát triển mạnh mẽ, ngoài giá trị nghệ thuật đã vượt thời gian, thì còn mang giá trị về mặt tinh thần to lớn với những người ly hương muốn tìm nghe lại những giai điệu mang nhiều kỷ niệm thời vàng son. Bên cạnh thể loại nhạc trữ tình đó thì còn có dòng nhạc trẻ bắt đầu được hình thành và phát triển mạnh mẽ ở hải ngoại, được giới trẻ ưa chuộng, cùng với đó là sự xuất hiện của một thế hệ ca sĩ mới, trẻ trung, phía nữ có Ngọc Lan, Kiều Nga, Nhật Hạ, Ý Nhi, Như Mai, Linda Trang Đài… Về phía nam ca sĩ có những tên tuổi tiêu biểu là Tô Chấn Phong, Don Hồ, Lâm Nhật Tiến, Jimmii Nguyễn, Kenny Thái, Nguyễn Hưng… Để gợi nhớ lại không khí âm nhạc của khoảng 30 năm trước, mời các bạn nghe lại những “top hits” được yêu thích của các nam ca sĩ hải ngoại nổi tiếng thời thập niên 1990. Don Hồ Có thể nói Don Hồ là một trong những nam ca sĩ nổi tiếng nhất của làng nhạc hải ngoại từ thập niên 1980. Có một thời gian dài anh liên tục làm mưa làm gió trên khắp các sân khấu âm nhạc lớn nhỏ từ Mỹ cho đến Âu Châu và Úc Châu. Trong làng nhạc hải ngoại nói riêng và âm nhạc Việt Nam nói chung, giọng hát của Don Hồ rất đặc biệt, khác biệt với tất cả các cả các thế hệ ca sĩ trước đó và cả sau này. Sau đây là video tuyển chọn những bài hát nổi tiếng nhất của Don Hồ dài hơn 1 tiếng đồng hồ: Click để nghe Don Hồ Collection Ca sĩ Don Hồ tên thật là Hồ Mạnh Dũng, sinh năm 1962 tại Sài Gòn trong gia đình gốc Bắc di cư năm 1954. Năm 1980, Don Hồ rời Việt Nam, thời gian đầu trên đất Mỹ rất khó khăn, anh vừa học vừa làm, sau đó đi hát ở nhiều phòng trà trước khi nổi tiếng từ đầu thập niên nhờ xuất hiện trên sân khấu Paris By Night bắt đầu từ số 12. Trong những chương trình video đầu tiên trong sự nghiệp ca hát, Don Hồ chỉ chuyên trình bày những nhạc phẩm ngoại quốc. Tuy nhiên sau đó anh dần chuyển sang hát nhạc Việt, và thành công với những ca khúc đầu tiên như Người Tình Trăm Năm, Em Hiền Như Masoeur, Tình Khúc Buồn… Sau đó không lâu, Don Hồ ghi được dấu ấn với dòng nhạc trẻ, đặc biệt là 2 ca khúc Trái Tim Mùa Đông, Trái Tim Ngục Tù. Trái Tim Mùa Đông là sáng tác nổi tiếng của nhạc sĩ Trúc Hồ, ban đầu được mang tên là Trái Tim Khô, được Don Hồ hát lần đầu trên Asia số 6 năm 1994, vào thời điểm anh là ca sĩ ăn khách bậc nhất ở hải ngoại. Click để nghe Don Hồ hát Trái Tim Mùa Đông Ta gặp nhau trong muộn màng Ta gặp nhau trong lỡ làng Cơn mưa đến sao vội vàng Như đôi ta xa nhau… Nếu như Trái Tim Mùa Đông được Hon Hồ hát trên Asia, thì cũng trong cùng năm 1994, có một ca khúc tương tự được anh hát trên sân khấu Paris By Night, đó là Trái Tim Ngục Tù của nhạc sĩ Đức Huy. Vì tên bài hát, lời hát và giai điệu của 2 bài này khá tương đồng, nên đôi khi người ta nhầm lẫn với nhau. Click để nghe Don Hồ hát Trái Tim Ngục Tù Anh đã gọi em, lời buồn chân mây Anh đã chờ em, đến khi lá bay Anh đã nhiều lần, bắt gặp mình trong gương Chẳng hiểu vì sao, đời mình mãi lao đao… Cả 2 bài Trái Tim Mùa Đông và Trái Tim Ngục Tù qua giọng hát Don Hồ đều đã một thời làm mưa làm gió trong thị trường nhạc, không chỉ tại hải ngoại, mà từ giữa thập niên 1990, hầu như quán cafe nào ở trong nước từ thành thị đến vùng quê xa xôi cũng đều mở 2 bài hát này. Tô Chấn Phong Cho đến nay, khán giả yêu dòng nhạc hải ngoại hồi thập niên 1990 vẫn còn nhớ đến một anh chàng lãng tử, đẹp trai có giọng hát nhẹ nhàng bồng bềnh trong những ca khúc nhạc nhẹ, chủ yếu là những bài nhạc ngoại lời Việt, đó là Tô Chấn Phong. Tô Chấn Phong có giọng hát trầm lắng, êm dịu, không quá kỹ thuật và cũng không có ý định phô diễn, anh thả cảm xúc bài hát trôi lãng đãng nhẹ nhàng đi sâu vào lòng người nghe nhạc. Người hát như không hát, như chỉ thủ thỉ những lời nhung nhớ, những buồn vui, hờn giận của đôi lứa yêu nhau; cả những đau khổ, mất mát cũng bỗng nhiên nhẹ nhàng, không quằn quại, rên xiết; người nghe cũng không cần phải cố gắng tập trung để thưởng thức những giá trị của giọng ca, mà như là là chia sẻ những âm giai đồng điệu đâu đó quanh mình. Click để nghe nhạc Tô Chấn Phong – những ca khúc chọn lọc Những ca khúc đã làm nên tên tuổi Tô Chân Phong một thời vào khoảng 20-30 năm trước là Tình Nồng, Hoa Nào Anh Quên, Dĩ Vãng Nhạt Nhòa, Một Thuở Yêu Người, Khúc Nhạc Buồn, Kỷ Niệm Nào Vội Tan… Lâm Nhật Tiến Ca sĩ Lâm Nhật Tiến là ca sĩ được yêu thích hàng đầu ở hải ngoại trong thập niên 1990, được khán giả khắp nơi yêu mến bởi chất giọng đặc biệt truyền cảm. Anh đã cộng tác thường xuyên với Trung tâm Asia trong khoảng thời gian từ 1994-2016, ngoài ra cũng có tham gia một số chương trình Paris By Night. Click để nghe nhạc Lâm Nhật Tiến Ca sĩ Lâm Nhật Tiến (cũng là tên thật) sinh ngày 3 tháng 9 năm 1971 tại Sài Gòn. Năm 1981, anh cùng gia đình sang Hoa Kỳ định cư, rồi học trung học và tốt nghiệp đại học Loma Linda University Medical Center (California) với ngành chụp quang tuyến X-Ray. Trước khi theo đuổi con đường ca hát chuyên nghiệp, nhờ sở hữu ngoại hình lý tưởng, Lâm Nhật Tiến đã từng làm người mẫu cho một số công ty dịch vụ truyền thông quảng cáo (Agency) tại Los Angeles và Orange County (Quận Cam). Năm 1994, trong một lần đi xem show Asia số 4, Lâm Nhật Tiến được bạn là nhiếp ảnh gia dẫn vào hậu trường để giới thiệu với giám đốc Bạch Đông (con rể của nhạc sĩ Anh Bằng). Nhận thấy chàng người mẫu này có ngoại hình sáng sân khấu, Bạch Đông đã hỏi anh có thích hát không và sau đó mời thử giọng. Là một giọng hát bản năng, không được đào tạo nên ban đầu giọng hát của Lâm Nhật Tiến không được tự nhiên, nghe giống như một người Mỹ hát nhạc Việt. Trung tâm Asia đã đề nghị anh học thêm về phát âm tiếng Việt, mời chuyên gia về phát âm người Mỹ đến dạy cho anh cách hát. Mặc dù chuyên gia này không hiểu nghĩa chữ Việt Nam nhưng khi nghe anh hát, họ có thể góp ý để giọng hát được hoàn hảo hơn. Hồi thập niên 90, làng nhạc hải ngoại chủ yếu vẫn là sân khấu của những giọng ca gạo cội, thiếu nhân tố mới, thiếu những ca sĩ trẻ nên trung tâm Asia đã bỏ nhiều công sức để đào tạo ca sĩ Lâm Nhật Tiến. Bài hit đầu tiên làm nên tên tuổi của Lâm Nhật Tiến là Em Đã Quên Một Dòng Sông của nhạc sĩ Trúc Hồ, sau đó anh trở thành ca sĩ gắn liền với những ca khúc của nhạc sĩ này với hàng loạt hits như Một Lần Nữa Thôi, Em Đã Quên Một Dòng Sông, Yêu Em Âm Thầm, Lời Dối Gian Chân Thành, Làm Thơ Tình Em Đọc, Giữa Hai Mùa Mưa Nắng, Tình Yêu, Mưa Tình Cuối Đông, Đỉnh Gió Hú, Sẽ Hơn Bao Giờ Hết, Mãi Yêu Người Thôi… Jimmii Nguyễn Jimmii Nguyễn tên thật là Nguyễn Thanh Dũng Ngọc Long, sinh ngày 1 tháng 11 năm 1970 tại Sài Gòn, đã bắt đầu được đứng trên sân khấu từ khi còn rất nhỏ tuổi. Năm lên 10 tuổi, Jimmii Nguyễn cùng cha đến định cư tại Hoa Kỳ, sau đó chọn tên tiếng Anh cho mình là Jimmii J.C Nguyễn. Năm lớp 6, anh tham gia ban nhạc H&N (Hocka & Nguyễn), sau đó là Melody. Năm 1993, em gái út của Jimmii Nguyễn đột ngột qua đời do một tɑi nan. Đau đớn trước sự việc này, anh sáng tác nhạc phẩm đầu tay Mãi Mãi Bên Em, để tưởng nhớ đến người em gái đã mất, nằm trong album đầu tay cùng tên. Album này trở thành hiện tượng vào năm 1993 và đã đưa tên tuổi Jimmii Nguyễn trở nên nổi tiếng trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại và tại Việt Nam. Anh tiếp tục phát hành nhiều album tiếp theo, bao gồm: Người Con Gái (năm 1994); Một Hình Dung (Nguyên Từ Mỹ, năm 1995); Tình Như Lá Bay Xa (Calvin Music, năm 1996); Hỏi Đá Có Buồn Không (đĩa đơn, năm 1996); và Seasons of Love (Intrsumental, năm 1996). Click để nghe Jimmii Nguyễn Top Hits Nguyễn Hưng Ca sĩ Nguyễn Hưng xuất hiện lần đầu trong cuốn Paris By Night 26 trong cùng năm 1994 với bài hát Đêm Nguyện Cầu (sáng tác của nhóm Lê Minh Bằng). Cũng trong năm 1994, tên tuổi của anh thực sự được chú ý và trở nên nổi tiếng khi trình bày nhạc phẩm Lầm của nhạc sĩ Lam Phương trong cuốn Paris By Night 28. Sau đó anh rất được yêu thích với hàng loạt video hát và nhảy cùng với Nguyễn Cao Kỳ Duyên như “Người Xa Người” (Trần Thiện Thanh), “Tình Cho Không” (“L’amour c’est pour rien”)…, trở thành người hát cặp ăn ý với Kỳ Duyên trong thập niên 1990. Ca sĩ Nguyễn Hưng tên thật là Nguyễn Từ Hưng, sinh năm 1957 tại Sài Gòn. Là con của vũ sư Ánh Tuyết, và trước khi là ca sĩ thì Nguyễn Hưng nổi danh là một vũ công chuyên nghiệp nên khả năng vũ đạo của anh được đánh giá là điêu luyện và uyển chuyển khi xuất hiện trên sân khấu Paris By Night. Sở hữu phong cách trình diễn cuốn hút, Nguyễn Hưng trở thành một hiện tượng của làng nhạc Hải ngoại thập niên 1990. Sau đây, mời các bạn xem và nghe lại những ca khúc nổi tiếng của Nguyễn Hưng được trung tâm Thúy Nga đăng trên YouTube chính thức: Click vào hình để xem Songlist: Hương (Nhật Ngân) PBN43 0:00 Chỉ Riêng Mình Ta (Lời Việt: Lê Xuân Trường)PBN45 4:15 Trả Hết Cho Người (Lê Hựu Hà) PBN56 9:02 Chờ Một Tiếng Yêu (Lê Hựu Hà) PBN58 13:41 Trái Tim Tình Si (Vũ Quốc Việt) PBN68 18:20 ___ Click vào hình để xem Songlist: Chỉ Riêng Mình Ta (Lời Việt: Lê Xuân Trường) 0:07 Ai Sẽ Là Em? (Lời Việt: Vũ Xuân Hùng) 4:52 Trọn Kiếp Đơn Côi (Nguyễn Ánh 9) 9:16 LK Không 1 & 2 (Nguyễn Ánh 9) hát với Thùy Vân 13:32 Tôi Muốn Nói Yêu Em (Mai Anh Việt) 17:54 Tình Có Như Không (Trần Thiện Thanh) 21:45 Khúc Tình Buồn (Nguyễn Ngọc Thạch) 25:14 ___ Click vào hình để xem Songlist: Khổ Vì Yêu Nàng (Tùng Châu, Lê Hựu Hà) 0:00 Tiếng Dân Chài (Phạm Đình Chương) hát với Thế Sơn, Như Quỳnh, Hoàng Lan, Phi Nhung 3:52 Tình Băng Giá (Lời Việt: Chu Minh Ký) hát với Như Quỳnh 10:30 Bài Không Tên Số 15 (Vũ Thành An) 14:54 Hai Chiếc Bóng Cô Đơn (Tùng Châu, Lê Hựu Hà) hát với Thiên Kim, Lưu Bích 19:25 Tôi Đưa Em Sang Sông (Nhật Ngân, Y Vũ) 24:53 Sa Mạc Tuổi Trẻ (Huỳnh Anh) 29:41 Tôi Chưa Có Mùa Xuân (Châu Kỳ) 36:03 Phượng Tìm Hoàng (Châu Kỳ, thơ: Đinh Hùng) 41:34 Chờ Anh Nói Một Lời (Nhật Trung) hát với Lưu Bích 45:32 Ghen (Huỳnh Nhật Tân) 56:09 Trọn Kiếp Đơn Côi (Nguyễn Ánh 9) 1:01:47 Trịnh Nam Sơn Ca sĩ – nhạc sĩ Trịnh Nam Sơn bắt đầu nổi tiếng trong làng nhạc hải ngoại từ cuối thập niên 1980, đầu tiên là Dĩ Vãng, sau đó là Nuối Tiếc, Quên Đi Tình Yêu Cũ, Về Đây Em, và đặc biệt là Con Đường Màu Xanh. Click để nghe những bài hát nổi tiếng của Trịnh Nam Sơn Ca nhạc sĩ Trịnh Nam Sơn sinh năm 1956 tại Sài Gòn. Khi sang Mỹ sau năm 1975, ông đã ngoài 20 tuổi nhưng chưa hề biết sáng tác, chỉ mới biết chút ít về nhạc nhờ tự học guitar và những giờ học nhạc ở trường trung học Nguyễn Trãi – Sài Gòn. Học xong trung học, chưa kịp thi Tú Tài thì Trịnh Nam Sơn đã phải rời quê hương cùng gia đình. Khi sang định cư ở tiểu bang Florida – Hoa Kỳ, Trịnh Nam Sơn bắt đầu xin được vào làm việc liên quan đến nhạc, đó là đệm guitar cho một ban nhạc Mỹ. Đến cuối năm 1976, ông sang tiểu bang California và ở lại đây cho đến nay. Tại Orange County, Trịnh Nam Sơn từng là một thành viên trong ban nhạc Chí Tài, ông bắt đầu tập tành viết nhạc khi còn chưa biết rành về ký âm pháp nên phải nhờ người bạn ở chung là nhạc sĩ Trần Quảng Nam viết notes nhạc giúp. Năm 1988, ông ra mắt ca khúc đầu tay là Dĩ Vãng, trước đó thì tác phẩm này vốn chỉ là một bài tập thực hành nhạc không lời vào năm 1985-1986, khi đang theo học tại trường nhạc Dick Grove School Of Music tại nam California. Không ngờ sau khi ra mắt, bài hát này rất được yêu thích và đưa tên tuổi Trịnh Nam Sơn rực sáng trong thị trường nhạc hải ngoại. Click để xem MV Dĩ Vãng – bài hát đầu tiên của Trịnh Nam Sơn Những năm đầu thập niên 1990, những người yêu nhạc Việt ở cả trong nước lẫn ở hải ngoại đã xem Trịnh Nam Sơn như là một hiện tượng với dòng nhạc mới lạ, giai điệu bài hát mang hơi thở thời đại, lời nhạc da diết và dễ nhận được sự đồng cảm. Điều đặc biệt, và cũng khác biệt, đó là Trịnh Nam Sơn sáng tác và tự hát những ca khúc của chính mình với giọng hát trầm ấm, truyền cảm. Click để nghe Trịnh Nam Sơn hát Con Đường Màu Xanh Ca khúc nổi tiếng và được yêu thích nhất của Trịnh Nam Sơn có lẽ là Con Đường Màu Xanh, được ông sáng tác năm 1991, đây cũng là khoảng thời gian tôi vừa chia tay vợ. Ông nói về cảm xúc trong ca khúc này như sau: “Dĩ nhiên không có đổ vỡ nào không đau buồn, nhưng dù sao tôi cũng mong rằng mỗi người hãy hướng đến một con đường màu xanh, màu của lạc quan, hy vọng để đi đến một tương lai tốt đẹp hơn. Từ một mối tình đơn phương thời trai trẻ rồi đến đổ vỡ trong hôn nhân cho đến chia tay những mối tình không trọn vẹn; tất cả những điều đó tôi không xem là những “trắc trở” mà là những “trải nghiệm”. Những trải nghiệm ấy đã cho tôi cảm hứng sáng tác nhưng chúng không “tạo hiệu ứng buồn” trong những bài hát của tôi. … Thường tôi chỉ viết cho “tình yêu” của mình chứ không cho “người yêu” của mình. Tôi viết vì cảm xúc trong lòng mình chứ không vì người khác. Vì vậy cho dù sau này nếu không còn yêu nhau nữa thì những cảm xúc trong bài hát vẫn mãi trọn vẹn”. Kenny Thái Kenny Thái từng là một trong những nam ca sĩ trẻ tiêu biểu thời kỳ đầu thập niên 1990, khi anh thường hát song ca với nữ ca sĩ xinh đẹp Ý Nhi, người sau đó trở thành vợ của anh. Vợ chồng Kenny Thái – Ý Nhi Kenny Thái tên thật là Kenny Chu, mang hai dòng máu Việt – Hoa, rời Việt Nam sang Hoa Kỳ định cư từ năm 1975. Vốn có năng khiếu và yêu thích âm nhạc từ nhỏ, Kenny may mắn có người cha hết lòng ủng hộ và giúp đỡ để anh theo con đường nghệ thuật. Năm 1987, Kenny đến vũ trường Ritz của nhạc sĩ Ngọc Chánh hát thử và ngay lập tức nhạc sĩ này nhận ra được triển vọng của giọng hát của chàng thanh niên 20 tuổi và mời cộng tác. Kenny Thái gây ấn tượng với khán giả nhờ vóc dáng cao ráo, nét mặt trẻ trung và giọng hát ấm áp, thường trình bày các ca khúc nhạc ngoại lời Việt, đặc biệt là nhạc Hoa. Mời các bạn nghe giọng hát Kenny Thái: Click để nghe giọng hát Kenny Thái Anh Tú Trong số những nam ca sĩ nhắc đến trong bài viết này, chỉ có duy nhất Anh Tú là người đã không còn trên dương thế, và cũng là người duy nhất đã đi hát từ trước 1975, tuy nhiên anh chỉ thực sự thành công từ thập niên 1980 tại hải ngoại với giọng hát rất đặc biệt có một không hai. Nhạc sĩ Quốc Bảo đã nhận xét về tiếng hát ấy như sau: Anh Tú có một cách phát âm tiếng Việt khá đặc biệt, hờ hững, run rẩy, và đẩy hơi từ răng để chữ trượt theo, nghe nhẹ nhõm, phóng túng, không gắng sức dụng công. Mà quả thật, anh hát như thể đang trò chuyện thân tình, như lời tâm sự bằng hữu, để những đoạn nghẹn ngào cũng chỉ vừa đủ như một nỗi đau đã lành được kể lại. Anh Tú hát tiếng Pháp chuẩn xác, điều chỉ có được với những người thực sự sử dụng được ngoại ngữ này. Cách phát âm tiếng Pháp với nhiều âm mũi cũng ảnh hưởng đến cách hát của anh trong nhạc Việt. Những âm khép được đẩy hết lên mũi, nghe chơi vơi, tuyệt vọng một cách đặc biệt. Đấy là cách hát tạo thành phong cách cho anh, không thể nhầm lẫn với bất kỳ ai… Click để nghe nhạc Anh Tú Ca sĩ Anh Tú tên thật là Lã Anh Tú, sinh năm 1950 tại Đà Lạt, là ca sĩ hát nhạc trẻ ở miền Nam trước năm 1975 và hải ngoại sau năm 1975. Anh được sinh ra trong gia đình giàu truyền thồng âm nhạc bậc nhất Việt Nam, với cha là nghệ sĩ Lữ Liên, anh trai là ca sĩ Tuấn Ngọc, chị là ca sĩ Bích Chiêu, các em đều là ca sĩ nổi tiếng: Khánh Hà, Lưu Bích… Theo cố nhà báo Trường Kỳ, ca sĩ bạc mệnh Anh Tú đã được biết đến nhiều từ khi ở Việt Nam, vào lúc phong trào nhạc trẻ ở ở Sài Gòn đang trong giai đoạn cực thịnh với ban nhạc The Uptight. Do đó vai trò ca sĩ độc lập của ông gần như không nổi bật lắm vì tên tuổi Anh Tú chỉ gắn liền với ban nhạc trẻ nổi tiếng này, cũng như trước đó với ban The Blue Jets hoặc nhóm Thúy-Hà-Tú (Thúy Anh, Khánh Hà, Anh Tú). Ban Thúy Hà Tú hợp ca rất hòa quyện với các bài nhạc trẻ và được khán giả yêu mến, vì lúc đó rất ít có ban hợp ca nhạc trẻ giống như vậy. Tuy Anh Tú không được biết đến nhiều bằng người anh ruột Tuấn Ngọc hay cô em Khánh Hà, nhưng anh chính là linh hồn của ban nhạc The Uptight trước và sau năm 1975, và là người đã sắp xếp mọi hoạt động cho ban nhạc trong suốt trên 20 năm. Anh Tú gắn bó với ban nhạc này suốt từ ngày đó cho đến khi The Uptight ngưng hoạt động năm 1993. Cũng từ đó, Anh Tú đã quyết định tách ra để theo đuổi sự nghiệp riêng (hát solo). Từ sau đó, Anh Tú nổi tiếng với những nhạc phẩm ngoại quốc êm dịu, đặc biệt là nhạc Pháp, nhưng anh cũng trình bày rất truyền cảm những nhạc phẩm tình cảm Việt Nam. Giọng hát của anh rất thích hợp với những tình ca nhẹ nhàng như Tuổi Xa Người, Linh Hồn Tượng Đá, Bài Không Tên Số 6, Tưởng Rằng Đã Quên… Sau khi sang hải ngoại, anh còn rất nổi tiếng với ca khúc nhạc hoa lời Việt của Khúc Lan như Chiếc Lá Mùa Đông, Đôi Bờ, Một Thuở Yêu Người, Những Lời Dối Gian… Click để nghe Anh Tú hát Chỉ Còn Mình Anh Kết thúc bài viết về các nam ca sĩ tiêu biểu của âm nhạc hải ngoại thập niên 1990, ở bài viết sau sẽ cùng nhìn lại các tên tuổi nữ ca sĩ 30 năm trước. Bài: Đông Kha Bản quyền của chuyenxua.net Danh mụcChuyện Xưa,Nhạc xưa Viết một bình luận Bình luận TênEmailTrang web Lưu tên của tôi, email, và trang web trong trình duyệt này cho lần bình luận kế tiếp của tôi. Ngày xưa, lúc chưa có bàn ủi điện, người ta dùng loại bàn ủi than, thường gọi là bàn ủi con gà. Hồi đó không phải nhà ai cũng có bàn ủi, mà thường chỉ những nhà khá giả và nhà nào có con gái ngày nào cũng mặc áo dài đi học thì mới sắm một bàn ủi con gà để trong nhà. Bàn ủi con gà xuất xứ sản xuất tại Pháp, được đúc bằng đồng để giữ nhiệt khi chứa than cháy nóng ở bên trong. Gọi là bàn ủi con gà vì ở trên đầu nắp bàn ủi của nó có gắn hình con gà để làm chốt khóa mở ra hoặc khóa lại. Đặc biệt “con gà” này chế tạo bằng loại đồng lạnh để không hấp nhiệt từ than nóng ở bên trong, để khi cầm vào đầu con gà để mở hoặc đóng nắp, người dùng sẽ không bị bỏng tay. Bàn ủi con gà sử dụng nhiệt từ than nóng đỏ được bỏ vào phía bên trong, nếu trong quá trình ủi bớt nóng thì mở nắp và tiếp tục bỏ than vào, và chốt hình con gà trước mũi bàn ủi là dùng để mở và đóng mỗi khi muốn bỏ than vào, lấy than ra. Hồi xưa còn bé, cái con gà ở trên nắp bàn ủi là con vật ngộ nghĩnh đã làm cho tôi phải thích thú. Mới ban đầu loay hoay mãi mà không làm sao mở chốt ra được, lấy làm lạ hỏi dì tôi thì dì trả lời một cách bí hiểm: “Bộ không biết cho gà ăn lúa hả?”. Thằng bé tôi liền nghĩ ra khi ăn lúa là con gà chúi mỏ xuống đất để mổ, vậy là tôi cầm cái đầu con gà cho nói “mổ lúa” mấy lần mới ra được cái chốt khóa nắp bàn ủi. Mỗi lần mấy dì ủi đồ là tôi có nhiệm vụ quạt than đến mỏi tay, mỗi khi bàn ủi nguội dần là dì để bàn ủi trên cái đế kê dưới đất, sai thằng tôi cầm cái quạt mo bằng cả hai tay quạt kế ngoài những lổ thông hơi nằm dưới phần đế của bàn ủi. Đến thập niên 1980, dù ở thôn quê, nhà tôi cũng có sắm một bàn ủi con gà, bàn ủi này sản xuất tại Việt Nam, làm bằng gang rồi xi bên ngoài lớp sơn màu đồng nên bàn ủi nhẹ và độ tinh xảo không bằng bàn ủi của Pháp hồi xưa. Nhà luôn có cái bếp nấu bánh chưng để đi bỏ mối, nên than hồng luôn luôn cháy sẵn trong bếp, chỉ cần gắp bỏ vào bàn ủi, không phải tốn công mồi củi quạt than như những nhà khác Ở thôn quê ít nhà nào có được bàn ủi con gà. Nên mỗi bận Tết đến hoặc trúng ngày lễ cưới hỏi, nhà nào không có phải đi đến nhà có bàn ủi để mượn. Vì vậy nên mỗi lần như vậy cái bàn ủi con gà được chuyền tay từ nhà này san nhà khác, là hình ảnh của không khí ấm áp tươi vui của lễ hội mỗi năm mới có một lần. Bây giờ, bàn ủi con gà đã trở thành cổ vật để trưng bày và chỉ còn trong ký ức về đồ dùng của một thời của nhiều người. Các loại bàn ủi con gà được giới sưu tầm truy lùng với giá từ vài trăm ngàn đồng cho đến hàng tỷ đồng, giá cả tùy thuộc vào độ hiếm, sự nguyên bản. năm sản xuất và chất liệu của bàn ủi. Hầu hết những chiếc bàn ủi được rao bán trên thị trường với giá vài trăm ngàn đồng chỉ là bằng đồng thường chứ không phải là đồng lạnh nguyên chất. Nếu như là bàn ủi bằng đồng lạnh sẽ có giá hàng chục, hàng trăm và thậm chí lên đến hàng tỷ đồng một chiếc. Những chiếc bàn ủi bằng sắt thì có giá trị rẻ hơn nhiều so với bằng đồng lạnh. Hiện nay, chúng được rao bán trên thị trường với giá khoảng 380.000 đến 900.000 đồng tùy thuộc vào độ mới của bàn ủi. Bàn ủi quý hiếm và có giá trị cao nhất được xem là loại bàn ủi nguyên bản của Pháp sản xuất năm 1914, được gọi là bàn ủi 1914. Phía dưới nắp trên của bàn ủi này được khắc chữ Made in France, 1914. Loại bàn ủi con gà này có hình tam giác, trọng lượng khoảng trên 7kg, phía trên sẽ có quai cầm rất đẹp, có nắp khóa đóng mở hình con gà rất tinh xảo và bắt mắt. Thiết kế bàn ủi con gà của Pháp đẹp hơn rất nhiều so với hàng Việt Nam, đường nét vô cùng sắc sảo và bền đẹp. Bài: Trương Đình Tuấn – chuyenxua.net Danh mụcChuyện Xưa 3 bình luận về “Câu chuyện về cái “bàn ủi con gà” ngày xưa – Từ vật dụng gia đình trở thành đồ cổ bạc tỷ” my 05/02/2022 vào lúc 4:58 chiều dưới quê em vẫn còn giữ cái bàn ủi này nè ? Trả lời Cao nhâm 01/03/2022 vào lúc 5:39 sáng Em có một con ạ Trả lời Chaiyasit 05/08/2023 vào lúc 5:53 chiều คุยังมีไหมไก่ตัวนี้1914 Trả lời Viết một bình luận Bình luận TênEmailTrang web Lưu tên của tôi, email, và trang web trong trình duyệt này cho lần bình luận kế tiếp của tôi. Có lẽ vẫn còn nhiều người nhớ thời bé đã từng hát nhại giai điệu với những câu “chế” ngộ nghĩnh: “Tò te cây me đánh đu, thằng cu nhảy dù, cao bồi bắn súng. Chết cha con ma nào đây, làm tao hết hồn, thằn lằn cụt đuôi”… Bài này còn có những biến thể lời Việt khác, chủ yếu là hát cho vui vẻ chứ không có ý nghĩa cụ thể, thí dụ như: “Tò te Rô-be đánh đu, Tặc-zăng nhảy dù, Zô-rô bắn súng. Chết cha con ma nào đây, thằng Tây hết hồn, thằn lằn cụt đuôi”. Câu hát này nhắc đến một số nhân vật nổi tiếng từng làm cho trẻ em miền Nam say mê qua các tập truyện tranh hoặc phim ảnh trước 1975. Phiên bản tiếng Pháp của bài hát này mang tên là Ce n’est qu’un au Revoir (hoặc Chant des Adieux), đã theo chân người Pháp vào Việt Nam từ những năm đầu thế kỷ 20, sau đó được nhà thơ Thế Lữ chuyển sang lời Việt thành bài hát mang tên Bài Ca Tạm Biệt từ thập niên 1940, thường được hát khi chia tay nhau sau các buổi sinh hoạt tập thể như trại hè hoặc hướng đạo với lời ca như sau: Vì đâu anh em chúng ta ngày nay sắp cùng bùi ngùi xa cách Cớ sao ta không còn trông rồi đây có ngày mình còn gặp nhau Cách nhau nhưng ta hằng vui vì nay biết sau còn ngày sung sướng Cách xa nhưng ta hằng mong rồi đây có ngày lại còn gặp nhau. Click để nghe Bài Ca Tạm Biệt Ngoài ra, còn có một phiên bản lời Việt khác nói về chia tay trường lớp, với câu hát đầu tiên là: Hè sang, anh em chúng ta cùng nhau chúc thầy ngàn câu thương mến… Vì bài hát này được người Pháp mang vào Việt Nam nên nhiều người Việt tưởng đây là bài hát Pháp. Thực ra, bài hát nổi tiếng khắp thế giới này có nguồn gốc từ xứ Scotland (Vương Quốc Anh) với tựa đề là Auld Lang Syne. Auld Lang Syne trong tiếng Scotland cổ có nghĩa tiếng Anh là “old long since”, hoặc “long long ago”, “in the days gone by”, nghĩa là “ngày xửa ngày xưa”, “những ngày xa xưa”. Auld Lang Syne được thi hào kiêm nhạc sĩ Robert Burns sáng tác lời và phổ thành nhạc năm 1788 dựa theo một điệu dân ca cổ của của Scotland, sau đó nhanh chóng trở thành giai điệu âm nhạc phổ biến không chỉ ở các nước nói tiếng Anh mà còn nhiều quốc gia trên thế giới, với các phiên bản được dịch ra nhiều thứ tiếng. Nếu như ở Việt Nam, bài nhạc tiếng Anh quen thuộc nhất trong dịp đầu năm là Happy New Year của ban nhạc người Thụy Điển – ABBA, thì ở nhiều nơi trên thế giới, bài Auld Lang Syne thường được vang lên trong thời khắc giao thừa để tiễn biệt năm cũ và đón mừng năm mới. Khác với bài Happy New Year có nội dung khá u ám, thì phiên bản tiếng Anh của Auld Lang Syne có nội dung tươi vui phù hợp với ngày đầu năm: For auld lang syne, my dear For auld lang syne We’ll take a cup o’ kindness yet For auld lang syne. (Cho những ngày tươi đẹp cũ, bạn thân yêu Cho những ngày tươi đẹp cũ Chúng ta cùng nâng ly vì điều tốt lành Cho những ngày tươi đẹp cũ…) Bài hát nhắc nhở mọi người là tất cả những điều đã xảy ra đều đáng trân quý. Kết thúc một năm với nhiều buồn vui, trong giờ phút giao thừa này chỉ cần chúng ta còn bên nhau và cùng nâng ly để đón chờ tương lai tươi sáng ở phía trước. Ngoài ra, Auld Lang Syne cũng thường được sử dụng trong các đám tang, lễ tốt nghiệp, hoặc các buổi lễ khác mang tính chất tạm biệt nhau. Điều đặc biệt của ca khúc này là có thể hát với nhiều phong cách khác nhau: Hát trong nghi lễ, hát vui nhộn, hát tha thiết, hoặc hát trong niềm tưởng tiếc… đều được. Trong buổi lễ bàn giao lãnh thổ Hongkong về cho Trung Hoa đại lục năm 1997, giai điệu quen thuộc của bài hát này cũng được vang lên, mời bạn xem lại sau đây: Click để nghe Dưới đây mời các bạn nghe một số phiên bản nổi tiếng khác của Auld Lang Syne: Click để nghe Click để nghe Click để nghe Click để nghe Đông Kha – chuyenxua.net biên soạn Danh mụcChuyện Xưa,Nhạc xưa Tô Chấn Phong – Chàng lãng tử trong âm nhạc và mối tình đặc biệt với nữ ca sĩ Khánh Hà Câu chuyện về cái “bàn ủi con gà” ngày xưa – Từ vật dụng gia đình trở thành đồ cổ bạc tỷ Viết một bình luận Bình luận TênEmailTrang web Lưu tên của tôi, email, và trang web trong trình duyệt này cho lần bình luận kế tiếp của tôi. ← Tô Chấn Phong – Chàng lãng tử trong âm nhạc và mối tình đặc biệt với nữ ca sĩ Khánh Hà most recent More Đường xưa lối cũ, Sài Gòn xưa Trên vỉa hè đại lộ Lê Lợi của Sài Gòn năm xưa Thi văn Chuyện tình ngang trái của nữ thi sĩ Lệ Khánh trong “Em là gái trời bắt xấu” và “Vòng tay nào cho em” Chuyện Xưa Nỗi oan khuất của danh tướng Trần Nguyên Hãn Đà Lạt xưa Nguồn gốc tên gọi Đà Lạt (Đạ Lạc) – Xuất phát từ tên gọi của một bộ tộc người bản xứ Chuyện Xưa, Đà Lạt xưa Sự hình thành của các hồ ở Đà Lạt và sự nhầm lẫn về việc hồ Xuân Hương được tạo thành từ miệng núi lửa Sài Gòn xưa Nhìn lại Sài Gòn – Chợ Lớn năm 1970 qua những hình ảnh của Jeff Dahlstrom © 2023 BẢN QUYỀN THUỘC VỀ CHUYỆN XƯA. EMAIL: CHUYENXUA.NET@GMAIL.COM

Bạn đang sao chép nội dung của page fb.com/chuyenxua.net. Nếu sử dụng cho blog cá nhân, vui lòng ghi rõ nguồn chuyenxua.net kèm theo link bài viết. Nếu là website, kênh truyền thông hoặc liên quan đến thương mại, vui lòng liên hệ trước để được đồng ý. Mọi hình thức vi phạm bản quyền nội dung để kiếm tiền thông qua MMO đều sẽ bị report đến Facebook và Adsense

Nguồn:https://chuyenxua.net/sai-gon-xe-dap-va-nhung-mien-nho/?fbclid=IwAR2NvkHqn8atZ0OTfFnxxrU_PILbhSlQh2GmAJSnr0M3Af1zgV1UYjBFWC4