Giới thiệu về tôi

Thứ Ba, 12 tháng 5, 2026

Nguyễn Tư Nghiêm, hệ màu, hệ hình, hệ nhịp, hệ motif - ngôn ngữ hội họa, tư duy thị giác và triết học thị giác.

 

▮Trước một bức tranh Nghiêm, người xem thường nhận xét quá nhanh chóng.
Thấy Gióng, liền gọi truyền thuyết dân tộc, xem tranh Kiều thấy Nguyễn Du và văn chương Việt, nhìn Điệu múa cổ nghĩ rằng đó là dân gian, lễ hội, nghi lễ. Còn tranh Con Giáp, lập tức coi là tranh Tết, lịch âm.
Đó là cái bẫy lớn nhất khi đọc Nguyễn Tư Nghiêm, tưởng rằng đã hiểu nghệ thuật của ông vì đã gọi đúng tên những hình tượng truyền thống.
Và điều này cũng không nên ngạc nhiên, bởi chính phần lớn phê bình Việt Nam, từ thập niên 1990s đến nay "đọc" hội họa Nguyễn Tư Nghiêm theo ba hướng quen thuộc, rằng:
“Nghiêm hiện đại hóa dân gian.”
“Nghiêm lấy cảm hứng từ Đông Sơn.”
“Nghiêm vận dụng âm dương ngũ hành.”
Những luận điểm này tuy không sai, nhưng chỉ dừng ở tầng bề mặt, giống như đứng xa nhìn một cỗ máy tinh vi rồi nói nó chạy được.
Thú thật, những nhận định kiểu vậy, thay vì làm rõ vấn đề, thường gây hoang mang nhiều hơn. Nếu không nói là phủ thêm một làn sương mù tạo thêm huyền bí không cần thiết.
Trong khi đáng lẽ ra, tiếp cận đúng hỏi nó "chạy" theo cơ chế nào ? Logic nội tại của nó là gì ?
Tương tự như vậy, câu hỏi dành cho nghệ thuật Nghiêm là tư duy thị giác là gì ? triết học thị giác của ông là gì ?
Có nghĩa là những vấn đề về năng lực hiểu, năng lực tổ chức đường nét, màu sắc, bố cục, chất liệu, không gian. Cũng như cách tổ chức ấy hàm chứa quan niệm gì về tồn tại, ký ức, cái đẹp và con người Việt.
Người ta mô tả Nghiêm bằng cảm tính, trong khi tranh của ông là một hệ cấu trúc. Mọi nét, bảng màu, khối mảng đều vận hành như một hệ thống, không phải một phong cách.
Giống như Wassily Kandinsky đạt được sự thừa nhận như họa sĩ hạng nhất thế giới không chỉ vì ông vẽ trừu tượng giỏi, mà là ông tạo ra ngôn ngữ trừu tượng, hay Pablo Picasso không chỉ phá hình, phá quy tắc truyền thống về phối cảnh mà tạo ra tư duy nghệ thuật khỏi sự mô phỏng thực tế.
Nguyễn Tư Nghiêm cũng vậy.
Ông tạo ra ngữ pháp tạo hình của riêng mình, nếu gọi là một trong đại diện cho ngữ pháp tạo hình Việt cũng không phải là cường điệu quá xa. Hệ tạo hình này không vay mượn phương Tây, không mô phỏng Trung Hoa và quan trọng nhất là không lặp lại dân gian.
Đó là một “ngôn ngữ” hội họa, chứ không phải một phong cách.
Tư duy thị giác của Nghiêm là tư duy thuần Việt, thứ tư duy nằm trong múa cổ, trong mỹ thuật đình làng, trong tranh Hàng Trống, trong sắc màu sơn son thếp, trong các mảng, nét và nhịp của nghệ thuật nghi lễ.
Khi đọc ông bằng lý thuyết phương Tây về bố cục, về đường nét, về hòa sắc, ta thấy ông hiện đại một cách kỳ lạ.
Khi đọc ông bằng ngôn ngữ truyền thống như phong thủy, như biểu tượng học và âm dương ngũ hành, ta lại thấy ông tỉnh táo và không minh họa.
Và khi đem văn hóa Đông Sơn soi chiếu, ta mới thấy điều mà giới nghiên cứu lâu nay đã để lỡ: Nghiêm không hiện đại hóa truyền thống, ông cấu trúc truyền thống thành một ngữ pháp tạo hình độc lập.
Ông không minh họa truyền thống, mà biến truyền thống thành cấu trúc thị giác, một hệ thống có logic, có quy luật tạo hình.
Tôi gọi đó là.
Hệ màu, hệ hình, hệ nhịp, hệ motif Nguyễn Tư Nghiêm.
Một hệ thống có tính triết học, có quy luật nội tại, có logic tương đương với các hệ thống tạo hình lớn của thế kỷ 20.
Nghiêm đã tạo được.
Hệ màu dựa trên nghi lễ và ngũ hành Việt hóa.
Hệ hình với đặc trưng nén, xoắn và phân mảng.
Hệ nhịp cảm hứng từ múa cổ, từ văn hóa Đông Sơn và từ Dịch học
Hệ motif với con giáp, với người múa và biểu tượng thời gian, vũ trụ.
Và đó chính hệ tư duy tạo hình của Nghiêm.
Nghiêm không vẽ theo truyền thống và cũng không hiện đại hóa dân gian. Ông tái kích hoạt một hệ "mã văn hóa" nằm trong các địa tầng thị giác từ văn hóa Đông Sơn, mỹ thuật Phật giáo Lý - Trần, đình chùa Lê - Mạc - Lê Trung Hưng, tranh dân gian Đông Hồ, Hàng Trống, đồ thờ, chạm khắc, gốm, tượng, hoa văn, mặt phẳng ước lệ, màu mảng, biểu tượng cộng đồng và đưa nó vào hình thức hội họa hiện đại.
Một cấu trúc tổng hợp mang tên là "Mỹ học Việt hiện đại của Nguyễn Tư Nghiêm”.
▮Đến đây thì câu hỏi lớn nhất và cũng là lý do tại sao Người Sưu Tập viết tiểu luật này - Nguyễn Tư Nghiêm tạo ra ngôn ngữ tạo hình, tạo ra hệ thống mầu, hình, nhịp và motif đặc biệt Việt bằng cách nào ? Nó thể hiện trên thực tế các tác phẩm ra sao ?
Và những vấn đề sau cũng rất quan trọng:
Trường Mỹ Thuật Đông Dương đóng vai trò gì đối với quá trình thực hành nghệ thuật của Nghiêm hay nói cách khác phải chăng những tiếp thu trường quy về nghệ thuật Phương Tây về phối cảnh, về hình họa, về hòa sắc mâu thuẫn với ngôn ngữ hội họa của Nghiêm ?
Cũng như vì sao Nghiêm không thể đọc bằng tiêu chuẩn Phương Tây, hoặc hiểu Nghiêm không thể bắt đầu từ Paul Cézanne hay hội họa Lập thể Cubism.
Hết dẫn nhập. Còn tiếp với luận điểm chính về nghệ thuật của Nguyễn Tư Nghiêm.